Môn
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
I. Môn. Phạm: Dvàra. Cổng chùa (thường gọi cửa Tam quan). Cứ theo luận Đại tì Bà Sa quyển 8, thì Bồ Tát Tại Gia khi đến ngoài cổng chùa, phải lễ sát đất và Tâm Niệm: Đây là nơi ở của các bậc thiện nhân rồi mới được tiến vào trong chùa. Các Già Lam, Tinh Xá cổ xưa đều có Kết Giới, 4 phía xây tường bao quanh, phải qua cổng chính mới vào giới nội, như Đại Tháp Sơn Kì ở Ấn Độ, 4 mặt đều có cổng. Còn kiến trúc chùa viện kiểu Trung Quốc thì thường mở cổng ở hướng chính Nam. [X. kinh Tu hành bản khởi Q. hạ; phẩm Thí Dụ Kinh Pháp hoa].
II. Môn. Thuật ngữ dùng để phân Biệt Pháp tướng và nghĩa lí, như: Bình Đẳng môn và Sai Biệt môn, Hữu Môn, Không Môn, Diệc Hữu Diệc Không Môn và Phi Hữu Phi Không môn (4 môn), Thánh Đạo Môn và Tịnh Độ Môn (2 môn) v.v... Vì Sự Giáo hóa của Phật giáo là thích ứng với đối tượng, tuy có nhiều Sai Biệt nhưng đều là cửa đưa người vào đạo Bồ Đề, cho nên gọi là Pháp Môn.
III. Môn. Nương vào 1 Pháp Môn mà lập Tông Chỉ của 1 Tông Phái, gọi là Tông Môn; đồ đệ của Tông Môn gọi là Môn Đồ, Môn đệ, hoặc dùng cànhlá làmví dụ thì gọi là Môn diệp, Môn mạt.
II. Môn. Thuật ngữ dùng để phân Biệt Pháp tướng và nghĩa lí, như: Bình Đẳng môn và Sai Biệt môn, Hữu Môn, Không Môn, Diệc Hữu Diệc Không Môn và Phi Hữu Phi Không môn (4 môn), Thánh Đạo Môn và Tịnh Độ Môn (2 môn) v.v... Vì Sự Giáo hóa của Phật giáo là thích ứng với đối tượng, tuy có nhiều Sai Biệt nhưng đều là cửa đưa người vào đạo Bồ Đề, cho nên gọi là Pháp Môn.
III. Môn. Nương vào 1 Pháp Môn mà lập Tông Chỉ của 1 Tông Phái, gọi là Tông Môn; đồ đệ của Tông Môn gọi là Môn Đồ, Môn đệ, hoặc dùng cànhlá làmví dụ thì gọi là Môn diệp, Môn mạt.