Mật Cung
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Từ gọi chung pháp tắc cúng dường theo nghi quĩ của Mật giáo. Tức là những nghi thức Tông Giáo được Mật giáo dần dần phát triển ra để thực hiện lí tưởng về giáo nghĩa. Loại nghi thức Tông Giáo này đều được chép vào Kinh Điển giáo nghĩa. Về sau, Pháp Thực hành dần dần trở nên phức tạp, nên đã sản sinh những kinh chuyên môn nói rõ về các phép tắc, loại Kinh Điển này đặc biệt được gọi là Nghi quĩ (Phạm: Kalpa). Pháp cúng dường là 1 phần Sự Tướng (đối lại với giáo tướng) rất quan trọng của Mật giáo, theo với đà phát triển của kĩ thuật Tạo Tượng mà pháp cúng dường cũng dần dần trở nên phiền toái. Đối tượng để Lễ Bái của Phật giáo nguyên thủy chỉ là Tốt Đổ Ba (tháp Phật), cây Bồ Đề, Pháp Luân, những di vật của Phật, lốt Chân Phật v.v... Mãi sau khi mĩ thuật tượng thần kiểu Hi lạp bột phát ở Kiện đà la, cùng với ảnh hưởng tượng thần của Ấn Độ Giáo, thì Phật giáo mới bắt đầu Tạo Tượng Phật. Các bản Nghi quĩ của Mật giáo phần lớn vốn miêu tả phương pháp Tạo Tượng Phật, song song với việc Tạo Tượng, những phép tắc tụng chú và cúng dường trước tượng Phật cũng dần dần phát triển, để rồi hình thành một bộ phận riêng của nghi quĩ Mật cúng. Nhưng trên thực tế, Mật cúng chỉ là pháp cúng dường, khác với pháp Tạo Tượng. Kinh Hoa tích Đà La Ni thần chú, do ngài Chi Khiêm dịch vào đời Ngô (Đại 21, 875 thượng) nói: Nếu thiện nam tử đọc tụng thần chú Hoa tích này, thì nên tụng vào các tháng 3, 4, 9 từ ngày mồng 8 đến 15, Nhất Tâm nhớ tưởng Như Lai tướng hảo; nửa đêm tụng 3 lần, giữa trưa cũng 3 lần, dâng hương hoa, đèn nến trước tượng Phật tu pháp Cúng dường. Đây là ghi chép sớm nhất về phép tu Cúng dường trước tượng Phật.Về sau, Mật cúng dần dần phát triển, như kinh Mâu lê Mạn Đà la chú được dịch vào đời Lương thuộc Nam triều đã ghi chép. Khi tu Mật cúng, trước hết 3 nghiệp phải thật thanh tịnh, tạo 1 tháp Xá Lợi, chọn ngày, tháng, giờ tốt, từ ngày mồng 1 đến 15 tháng trắng (Bạch Nguyệt) là ngày giờ tốt. Nếu chỉ tu 1 ngày cũng được, trong trường hợp này thì nên chọn ngày 15 hàng tháng là tốt nhất. Hành Giả phải dùng nước thơm tắm gội, mặc áo mới sạch sẽ, thắp 4 ngọn đèn, dâng hoa tươi tùy theo mùa, cúng dường chư Phật, Bồ Tát và các vị Kim Cương; nên ăn 3 loại bạch thực (thức ăn có màu trắng), nhiễu 1 vòng quanh tháp và Mạn Đà la, tụng 1 biến chú, cứ thế tụng đủ 108 biến thì Thành Tựu pháp cúng dường này. Do đó có thể thấy nghi thức Mật cúng dần dần đã phát triển đầy đủ các phép tắc. Đến Vô lượng thọ Như Lai tu quán hạnh cúng dường nghi quĩ do ngài Bất Không dịch vào đời Đường thì lại thấy Mật cúng đã chịu ảnh hưởng của phong tục Ấn Độ, rồi vì sáng kiến cũng như sự giải thích của các vị A Xà Lê khác nhau mà đã phát sinh những dòng phái bất đồng.