Ma Ha Ca Chiên Diên

《摩訶迦旃延》 mó hē jiā zhān yán

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: Mahākātyāyana, Pāli: Mahākaccāyana Mahākaccāna: một trong 10 vị đại Đệ Tử của đức Phật, còn gọi là Ma Ha Ca Đa Diễn Na (), Ma Ha Ca Để Da Dạ Na (), Đại Ca Chiên Diên (), Ca Chiên Diên (); ý dịch là Đại Tiễn Dịch Chủng Nam (). Ông xuất thân nước A Bàn Đề (Sanskrit: Avanti, ) ở miền Tây Ấn Độ. Về dòng họ cũng như Nhân Duyên Xuất Gia của ông, có nhiều thuyết khác nhau. Theo Phật Bản Hạnh Tập Kinh () quyển 37, Phẩm Na La Đà Xuất Gia (), ông là người con thứ hai của Bà La Môn Đại Ca Chiên Diên trong bộ lạc ăn thịt khỉ, tên là Na La Đà (Sanskrit: Nālaka, ). Lần đầu tiên vào Tần Đà Sơn () trong Thành Ưu Thiền Da Ni (), ông theo học tập giáo nghĩa Phệ Đà (Sanskrit: Veda, ) với Tiên Nhân A Tư Đà (Sanskrit: Asita, ). Về sau, A Tư Đà thấy tướng tốt Trang Nghiêm của Phật khi mới giáng sanh, tiên đoán rằng tương lai Ngài sẽ Thành Phật và lúc mạng chung di ngôn rằng Ca Chiên Diên phải Lễ Bái đức Phật làm thầy. Sau khi Xuất Gia, ông siêng năng tu tập, không hề giải đãi, Chứng Đắc quả A La Hán. Sau khi đức Phật Diệt độ, ông tiếp tục luận tranh với Ngoại Đạo, nên được gọi là Luận Nghị Đệ Nhất (Luận Nghị Số Một). Câu Xá Luận Quang Ký () quyển 1, A Tỳ Đạt Ma Thí Thiết Luận () trong Lục Túc Luận () được xem như là do ông tạo ra. Trong Mật Giáo, ông được an trí ở bên trái Phật Thích Ca Mâu Ni trong Hiện Đồ Thai Tạng Giới Mạn Trà La ().