Lục Chủng Quyền Ấn

《六種拳印》 liù zhǒng quán yìn

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Sáu loại quyền ấn được dùng làm ấn căn bản khi kết Thủ Ấn trong Mật giáo. Quyền là nắm tay. Vì hình dáng của 6 loại ấn này giống như nắm tay nên gọi là Quyền ấn. Đó là:
1. Kim Cương Quyền ấn: Đặt ngón tay cái vào trong lòng bàn tay, rồi nắm lại thành quyền.
2. Liên Hoa Quyền ấn (cũng gọi Thai quyền): Co 4 ngón út, vô danh, giữa và trỏ lại, đặt đầu ngón cái bên ngoài ngón trỏ, giữa lóng thứ 1 và thứ
2. 3. Nội phược quyền ấn (gọi tắt: Nội phược): Tréo tay thành quyền, 10 ngón đan vào nhau ở trong lòng bàn tay, ngón cái của tay phải đặt lên trên ngón cái của tay trái.
4. Ngoại phược quyền ấn (gọi tắt: Ngoại phược): Tréo tay thành quyền, 10 ngón đan vào nhau ở ngoài bàn tay, ngón cái của tay phải đặt lên trên ngón cái của tay trái. Bốn Quyền ấn trên đây là các ấn cơ bản thường dùng trong Mật giáo.
5. Phẫn Nộ Quyền ấn: Trước hết Kết Ấn Kim Cương Quyền, sau đó dựng đứng ngón trỏ và ngón út.
6. Như Lai Quyền ấn: Hai tay nắm lại chồng lên nhau, tay phải đặt phía trên, Kết Ấn Kim Cương Quyền; tay trái đặt phía dưới, Kết Ấn Liên Hoa Quyền, nhưng ngón cái của ấn Liên Hoa Quyền để trong lòng bàn tay phải. Trong 6 ấn nói trên, Liên Hoa Quyền còn được gọi là Như Lai Quyền, Thai tạng quyền.Trong các kinh quĩ nói về Như Lai Quyền phần nhiều là chỉ cho Liên Hoa Quyền. Có thuyết cho rằng trong 6 quyền ấn này chỉ có 4 loại trước là ấn căn bản, còn 2 quyền ấn sau thì không phải, nhưng vì 6 ấn đều có hình dáng giống như nắm tay, nên gọi chung là Lục Chủng Quyền Ấn. Lục Chủng Quyền ẤnThập Nhị Hợp Chưởng đều là ấn cơ bản trong các Ấn Tướng của Mật giáo. [X. phẩm Mật Ấn kinh Đại nhật Q. 4.; Đại Nhật Kinh Sớ Q. 13.; Đại Nhật Kinh Nghĩa Thích Q. 10.]. (xt. Tứ Chủng Quyền, Như Lai Quyền).