Linh Nham Sơn Tự
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Chùa ở huyện Ngô, tỉnh Giang tô, Trung Quốc, tương truyền vốn là tư dinh của quan Tư không tên là Lục ngoạn đời Đông Tấn hiến cúng. Khoảng năm Thiên giám (502-519) đời Vũ đế nhà Lương, chùa được mở rộng và đặt tên là chùa Tứ phong. Theo truyền thuyết, chùa này là Đạo Tràng ứng hóa của Bồ Tát Trí tích nói trong kinh Đại ai (do ngài Trúc Pháp Hộ dịch). Khoảng năm Thiên bảo (742-755) đời vua Huyền Tông nhà Đường, tổ Trung hưng tông Thiên thai là ngài Đạo tuân từng tu Pháp Hoa Tam Muội tại đây. Đầu đời Tống, chùa này là tự viện của Luật Tông. Khoảng năm Nguyên phong (1078-1085) được đổi thành Thiền Viện. Trong chùa có một tòa tháp 9 tầng, do ông Tôn thừa hữu xây dựng vào khoảng năm Thái bình hưng quốc (976-983) đời Tống. Năm Vạn lịch 28 (1600) đời Minh, vì bị sét đánh nên bộ phận làm bằng gỗ của tháp đã đổ nát, nay chỉ còn thân tháp bằng gạch. Năm Hàm phong thứ 10 (1860) đời Thanh, trừ ngôi tháp 9 tầng còn quá nửa các kiến trúc trong chùa đã bị quân giặc Thái bình thiên quốc thiêu hủy. Năm Tuyên thống thứ 3 (1911), ngài Chân đạt trụ trì chùa này, cùng với sự giúp sức của ngài Diệu chân, bắt đầu xây cất lại các phòng xá, Điện Đường, trở thành ngôi chùa nổi tiếng ở Giang nam. Năm Dân quốc 20 (1931), sau chiến tranh giữa Trung Quốc và Nhật bản, vị Cao Tăng thuộc tông Tịnh Độ Trung Quốc đương thời là Đại sư Ấn Quang Thường Trụ ở chùa này, kẻ tăng người tục xa gần đều tụ về rất đông. Ngài Ấn Quang tham khảo, đối chiếu các loại qui ước của Tùng Lâm từ bộ Bách trượng thanh qui về sau, rồi lập ra các qui định nghiêm khắc về tu hành Niệm Phật như: Linh Nham Sơn Tự cộng trụ qui ước, Niệm Phật đường qui ước, Tăng trị qui ước v.v... Từ đó chùa này trở thành ngôi Tùng Lâm Chuyên Tu Tịnh Nghiệp vào bậc nhất của Trung Quốc, hàng ngày chỉ xưng niệm Danh Hiệu Phật, mà không làm các Phật Sự khác như giảng kinh, truyền giới, Truyền Pháp, thu nhận đồ chúng, Kinh Sám, v.v... Năm Dân quốc 29 (1940), ngài Ấn Quang Thị Tịch, sau khi hỏa thiêu các Đệ Tử thu được Xá Lợi 5 màu và xây tháp tôn thờ. Hiện nay có nhà kỉ niệm Đại sư Ấn Quang. Từ năm 1949 về sau, ngài Diệu chân làm Trụ trì, vẫn duy trì và tuân thủ các qui ước do ngài Ấn Quang đặt ra. [X. Trung Quốc Phật giáo phát triển sử (Trung thôn nguyên)].