Lăng Già Sư Tư Kí

《楞伽師資記》 léng qié shī zī jì

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Lăng già Sư Tư Huyết Mạch kí. Tác phẩm, 1 quyển, do ngài Tịnh Giác biên tập khoảng năm Cảnh long thứ 2 (708) đời Đường, được thu vào Đại chính tạng tập 85. Nội dung sách này tường thuật về 8 đời truyền thừa kinh Lăng già. Vào thời kì đầu, Thiền Tông Trung Quốc chia làm 2 tông Nam, Bắc và mỗi tông đều cho tông mình là chính thống nên có lịch sử truyền thừa khác nhau. Sách này đứng trên lập trường Thiền Bắc tông để ghi chép lịch sử truyền thừa của Thiền Tông vào thời đó. Tông Sư Truyền Pháp lúc bấy giờ đặc biệt coi trọng kinh Lăng già và dùng kinh này làm biểu tín để Truyền Pháp. Vì thế sách này lấy tên là Lăng Già Sư Tư Kí để nói về 8 đời truyền thừa thuộc hệ thống Thiền Bắc tông:
1. Cầu Na Bạt Đà La, dịch giả kinh Lăng già.
2. Bồ Đề Đạt Ma.
3. Tuệ khả.
4. Tăng xán.
5. Đạo Tín.
6. Hoằng Nhẫn.
7. Thần Tú, Huyền Trách, Lão an.
8. Phổ Tịch, Kính hiền, Nghĩa phúc, Huệ phúc. Sách này là tư liệu cơ bản để nghiên cứu lịch sử Thiền Tông Trung Quốc thời kì đầu, không phải chỉ đơn thuần là truyện kí mà còn bao hàm nhiều tư tưởng Thiền, như trong truyện Cầu Na Bạt Đà La có thuyết Tứ chủng an tâm, trong truyện Tăng xán có tư tưởng Hoa nghiêm Nhất tức Nhất Thiết, trong truyện Đạo Tín có thuyết Tức Tâm Tức Phật, Nhất Hạnh Tam Muội, Thủ Nhất bất di. Ngoài ra, sách này còn bàn về Công Phu tọa thiền. Sau khi bộ truyện kí này được tìm thấy ở Đôn hoàng, thì sự nghiên cứu về Thiền Bắc tông phát triển rất nhanh. Sách này có điểm đặc biệt là tường thuật về Tổ Hoằng Nhẫn Truyền Pháp rất khác với những điều được trình bày trong Pháp Bảo Đàn Kinh của Thiền Nam Tông. Tức sách này cho rằng Tổ Hoằng Nhẫn có 10 vị Đệ Tử là: Thần Tú, Trí tân, Huệ tạng, Huyền ước, Lão an, Pháp như, Huệ năng, Trí đức, Nghĩa phương và Huyền Trách. Trong đó, 2 vị Thần TúHuyền Trách được Tổ Hoằng Nhẫn đặc biệt xem trọng, còn địa vị của ngài Huệ năng thì không có gì nổi bật. Nguyên bản sách này hiện còn được cất giữ tại viện bảo tàng Đại Anh ở Luân đôn và thư viện Quốc dân ở Ba lê. [X. Lịch Đại Pháp Bảo Kí; Minh Sa Dư Vận giải thuyết].