Lăng Già Sư Tư Ký

《楞伽師資記》 léng qié shī zī jì

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Ryōgashijiki: 1 quyển, do Tịnh Giác () ở Thái Hành Sơn () soạn, được thành lập vào khoảng năm thứ 4 (716) niên hiệu Khai Nguyên () nhà Đường. Tác phẩm Đăng Sử Thiền Tông thuộc thời kỳ đầu của hệ Bắc Tông này nói lên truyền thống truyền thừa Kinh Lăng Già (Sanskrit: Lankāvatāra-sūtra, ) qua 8 đời, khởi đầu bằng Cầu Na Bạt Đà La (Sanskrit: Guṇabhadra, , 394-468)―người truyền dịch bộ kinh này―được xem như là đời thứ nhất; đời thứ 2 là Bồ Đề Đạt Ma (Sanskrit: Bodhidharma, []) cho đến Huệ Khả (), Tăng Xán (), Đạo Tín (), Hoằng Nhẫn (), đến đời thứ 7 có 3 vị là Thần Tú (), Huyền Trách (), Huệ An () và đời thứ 8 gồm 4 người môn hạ của Thần Tú như Phổ Tịch (), Kính Hiền (), Nghĩa Phước (福), Huệ Phước (福). Đặc biệt, trong phần Nhập Đạo An Tâm Yếu Phương Tiện Pháp Môn (便) có dẫn dụng lời của Đạo Tín khá dài. Hơn nữa, Huyền Trách, Đệ Tử của Hoằng Nhẫn, cũng kế thừa qua cuốn Lăng Già Nhân Pháp Chí () và có trích dẫn lời của Đạo Tín. Bản Đôn Hoàng có các ký số S2054, S4272, P3294, P3436, P3537, P3703 và P4564. Bản của Đại Chánh Đại Tạng Kinh (, Taishō) căn cứ vào bản S2054 thiếu chữ thủ đô, nhưng khi các bản P3294, P4564 xuất hiện thì chữ thủ đô được bổ sung vào và những phần thiếu mất trong văn lời tựa cũng phục nguyên lại được. Bên cạnh đó, người ta còn phát hiện dịch bản tiếng Tây Tạng.