Lăng Già Sơn
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Lăng già, Phạm,Pàli:Laíkà. Cũng gọi Lăng ca sơn. Hán dịch: Nam vãng sơn, Khả úy sơn, Hiểm tuyệt sơn. Tên núi, tương truyền là nơi đức Phật giảng kinh Lăng già. Về vị trí núi này có mấy thuyết khác nhau: Theo kinh Lăng già a bạt Đa La Bảo Quyển 1, núi này nằm ở bờ biển Nam hải. Theo Tuệ uyển Âm Nghĩa quyển hạ, núi này nằm ở bờ biển thuộc biên giới phía nam của Nam Thiên Trúc. Theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 11 và Tục Cao Tăng Truyện quyển 4, thì Lăng già là tên 1 ngọn núi ở đảo Tích lan. Theo Đại sử (Pàli:Mahà-vaôsa, i), Lăng già là tên riêng của Tích lan, nhưng đa số các học giả hiện nay không thừa nhận thuyết này. Cứ theo phẩm Chư Phật trong kinh Nhập lăng già quyển 1, núi này do các thứ quí báu tạo thành, ánh sáng chói lọi giống như trăm nghìn mặt trời cùng chiếu lên vàng. Trong núi có vô số vườn hoa, gió hiu hiu thổi, cành lá rung rinh, trăm nghìn hương hoa ngào ngạt cùng lúc lan tỏa, trăm nghìn âm thanh vi diệu đồng thời phát ra; ngọn núi trùng điệp, quanh co, có vô lượng Điện Đường, hang động, khám thờ đều do các thứ báu tạo thành, trong ngoài trong suốt, sáng rực, át cả ánh sáng của mặt trời mặt trăng. Núi này thủa xưa là nơi các vị Tiên, Thánh Đắc Đạo nhập tịch. [X. kinh Hoa nghiêm Q. 62. (bản dịch mới); Hoa Nghiêm Kinh Sớ Q. 56.; Huyền Ứng Âm Nghĩa Q. 7.; Đông Nam Ấn Độ chư quốc đích nghiên cứu].