Lăng Già Kinh
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
Phạm:Laíkàvatàrasùtra. Gọi đủ: Lăng già a bạt Đa La bảo kinh. Kinh, 4 quyển, do ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch vào năm 443 đời Lưu Tống, được thu vào Đại chính tạng tập 16. Lăng già là tên núi; A bạt Đa La nghĩa là vào. Tức là đức Phật nói bộ kinh quí báu này khi Ngài vào núi Lăng già, là 1 trong 6 bộ kinh làm chỗ y cứ của Tông Pháp tướng. Nội dung kinh này thuyết minh Thế Giới vạn hữu đều do tâm tạo, đối tượng Nhận Thức của người ta không phải ở bên ngoài mà là tại trong tâm. Kinh này kết hợp tư tưởng Như Lai Tạng và tư tưởng thức A lại da, là đại biểu cho các kinh thuộc hệ tư tưởng Phật giáo Đại Thừa hậu kì ở Ấn Độ. Niên đại thành lập kinh này vào khoảng trước sau năm 400 Tây lịch. Toàn bộ kinh đã nhiều lần nhấn mạnh đến nguồn gốc của si mê chính là do Tập Khí từ vô thủy đến nay đã không biết rõ các pháp là từ nơi tâm mình hiển hiện. Nếu có thể thấu triệt được bản tính của ý thức, xa lìa những đối lập năng thủ, sở thủ, thì có Thể Đạt đến cảnh giới vô Phân Biệt. Nguyên bản tiếng Phạm của kinh này được tìm thấy tại Nepal, học giả Nhật bản là các ông Nam Điều Văn Hùng và Hà khẩu Tuệ hải đã hiệu đính và xuất bản vào năm 1923. Có 3 loại bản Hán dịch đều được thu vào Đại chính tạng tập 16:
1. Lăng già a bạt Đa La bảo kinh, 4 quyển, cũng gọi Tứ quyển Lăng Già Kinh, Tống dịch Lăng Già Kinh, do ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch vào đời Lưu Tống.
2. Nhập Lăng Già Kinh, 10 quyển, cũng gọi Thập quyển Lăng Già Kinh, Ngụy dịch Lăng Già Kinh, do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch vào đời Bắc Ngụy.
3. Đại Thừa nhập Lăng Già Kinh, 7 quyển, cũng gọi Thất quyển Lăng Già Kinh, Đường dịch Lăng Già Kinh, do ngài Thực xoa Nan Đà dịch vào đời Đường. Trong 3 loại bản dịch trên, bản Tứ quyển Lăng Già Kinh được Tổ Bồ Đề Đạt Ma dùng để Phó Chúc cho ngài Tuệ khả, vì thế xưa nay rất được Thiền Tông đặc biệt xem trọng. Cứ theo Pháp xung truyện trong Tục Cao Tăng Truyện chép, thì sự thuyết giảng kinh Lăng già 4 quyển có thể chia làm 2 chi phái: Một phái từ ngài Tăng xán truyền xuống, thì y cứ vào Nhất Thừa tông của Nam Thiên Trúc; một phái từ các ngài Đàm Thiên, v.v... thì y cứ vào luận Nhiếp Đại Thừa. Tuy nhiên, vào thời đại Nam Bắc Triều kinh này vẫn chưa được nghiên cứu một cách phổ biến. Đến đời Đường, với đà phát triển của Thiền Tông, thì kinh này mới được chú trọng, lúc đó mới có những danh xưng như: Lăng già sư, Lăng Già Tông xuất hiện. Rồi từ những sách Lăng già nhân pháp chí của ngài Huyền di và Lăng Già Sư Tư Kí của ngài Tịnh Giác mà chúng ta có thể biết được là vào thời ấy kinh này đã được dùng làm biểu tượng truyền thừa. Mãi đến khi các ngài Thần Hội, v.v... đưa ra chủ trương dùng Bát Nhã thay cho Lăng già thì kinh Kim Cương mới dần dần được xem trọng. Ngoài các bản Hán dịch, kinh này còn có bản dịch tiếng Tây tạng và bản dịch tiếng Nhật. Riêng bản dịch Tây tạng có 2 loại, một theo đúng nguyên văn chữ Phạm, một theo bản Hán văn. Kinh này có rất nhiều sách chú sớ, nhưng quan trọng hơn cả thì có: - Nhập Lăng Già Kinh sớ, 5 quyển, của ngài Bồ Đề Lưu Chi. - Lăng Già Kinh sớ, 7 quyển, của ngài Nguyên Hiểu người Tân La. - Lăng Già Kinh sớ, 6 quyển, của ngài Đàm Thiên đời Tùy. - Lăng Già Kinh chú, 5 quyển, của ngài Trí nghiêm đời Đường. - Nhập Lăng Già Tâm Huyền Nghĩa, 1 quyển, của ngài Pháp Tạng đời Đường, và - Thánh nhập Lăng Già Kinh chú (Phạm: Àryalaíkavatàravftti) trong Đại Tạng Kinh Tây tạng. Ngoài ra, bộ Đại Thừa Nghĩa Chương của ngài Tuệ viễn chùa Tịnh ảnh là luận nghiên cứu quan trọng về kinh này. Sau hết, kinh này thu dụng rất nhiều học thuyết của các học phái Phật giáo, đồng thời, đứng trên lập trường của các học thuyết ấy mà trình bày về sự thể nghiệm tôn giáo. Những tư tưởng trọng yếu của kinh này là:
1. Kết hợp tư tưởng Như Lai Tạng với thức A lại da, mở đầu cho tư tưởng của luận Đại Thừa khởi tín.
2. Kinh này chia Thiền làm 4 loại: Ngu phu sở hành thiền, Quán sát nghĩa thiền, Phan Duyên như thiền và Như Lai Thiền. Đây là tư liệu về lịch sử Thiền Tông rất được chú ý.
3. Đối với học thuyết Duy Thức ở thời kì sau, nhất là Duy Thức của ngài Hộ Pháp, có ảnh hưởng rất lớn. [X. Lịch Đại Tam Bảo Kỉ Q. 9.; Đại Đường Tây Vực Kí Q. 11.; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q. 4., 5, 6, 9].
1. Lăng già a bạt Đa La bảo kinh, 4 quyển, cũng gọi Tứ quyển Lăng Già Kinh, Tống dịch Lăng Già Kinh, do ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch vào đời Lưu Tống.
2. Nhập Lăng Già Kinh, 10 quyển, cũng gọi Thập quyển Lăng Già Kinh, Ngụy dịch Lăng Già Kinh, do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch vào đời Bắc Ngụy.
3. Đại Thừa nhập Lăng Già Kinh, 7 quyển, cũng gọi Thất quyển Lăng Già Kinh, Đường dịch Lăng Già Kinh, do ngài Thực xoa Nan Đà dịch vào đời Đường. Trong 3 loại bản dịch trên, bản Tứ quyển Lăng Già Kinh được Tổ Bồ Đề Đạt Ma dùng để Phó Chúc cho ngài Tuệ khả, vì thế xưa nay rất được Thiền Tông đặc biệt xem trọng. Cứ theo Pháp xung truyện trong Tục Cao Tăng Truyện chép, thì sự thuyết giảng kinh Lăng già 4 quyển có thể chia làm 2 chi phái: Một phái từ ngài Tăng xán truyền xuống, thì y cứ vào Nhất Thừa tông của Nam Thiên Trúc; một phái từ các ngài Đàm Thiên, v.v... thì y cứ vào luận Nhiếp Đại Thừa. Tuy nhiên, vào thời đại Nam Bắc Triều kinh này vẫn chưa được nghiên cứu một cách phổ biến. Đến đời Đường, với đà phát triển của Thiền Tông, thì kinh này mới được chú trọng, lúc đó mới có những danh xưng như: Lăng già sư, Lăng Già Tông xuất hiện. Rồi từ những sách Lăng già nhân pháp chí của ngài Huyền di và Lăng Già Sư Tư Kí của ngài Tịnh Giác mà chúng ta có thể biết được là vào thời ấy kinh này đã được dùng làm biểu tượng truyền thừa. Mãi đến khi các ngài Thần Hội, v.v... đưa ra chủ trương dùng Bát Nhã thay cho Lăng già thì kinh Kim Cương mới dần dần được xem trọng. Ngoài các bản Hán dịch, kinh này còn có bản dịch tiếng Tây tạng và bản dịch tiếng Nhật. Riêng bản dịch Tây tạng có 2 loại, một theo đúng nguyên văn chữ Phạm, một theo bản Hán văn. Kinh này có rất nhiều sách chú sớ, nhưng quan trọng hơn cả thì có: - Nhập Lăng Già Kinh sớ, 5 quyển, của ngài Bồ Đề Lưu Chi. - Lăng Già Kinh sớ, 7 quyển, của ngài Nguyên Hiểu người Tân La. - Lăng Già Kinh sớ, 6 quyển, của ngài Đàm Thiên đời Tùy. - Lăng Già Kinh chú, 5 quyển, của ngài Trí nghiêm đời Đường. - Nhập Lăng Già Tâm Huyền Nghĩa, 1 quyển, của ngài Pháp Tạng đời Đường, và - Thánh nhập Lăng Già Kinh chú (Phạm: Àryalaíkavatàravftti) trong Đại Tạng Kinh Tây tạng. Ngoài ra, bộ Đại Thừa Nghĩa Chương của ngài Tuệ viễn chùa Tịnh ảnh là luận nghiên cứu quan trọng về kinh này. Sau hết, kinh này thu dụng rất nhiều học thuyết của các học phái Phật giáo, đồng thời, đứng trên lập trường của các học thuyết ấy mà trình bày về sự thể nghiệm tôn giáo. Những tư tưởng trọng yếu của kinh này là:
1. Kết hợp tư tưởng Như Lai Tạng với thức A lại da, mở đầu cho tư tưởng của luận Đại Thừa khởi tín.
2. Kinh này chia Thiền làm 4 loại: Ngu phu sở hành thiền, Quán sát nghĩa thiền, Phan Duyên như thiền và Như Lai Thiền. Đây là tư liệu về lịch sử Thiền Tông rất được chú ý.
3. Đối với học thuyết Duy Thức ở thời kì sau, nhất là Duy Thức của ngài Hộ Pháp, có ảnh hưởng rất lớn. [X. Lịch Đại Tam Bảo Kỉ Q. 9.; Đại Đường Tây Vực Kí Q. 11.; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q. 4., 5, 6, 9].