Kính Sơn Pháp Khâm

《徑山法欽》 jìng shān fǎ qīn

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Keizan Hōkin, 714-792: vị tăng của Ngưu Đầu Tông () Trung Quốc, xuất thân Côn Sơn (), Quận Ngô (, Tỉnh Triết Giang), còn gọi là Đạo Khâm (), họ Chu (). Năm 28 tuổi, trên đường đi lên kinh đô, ông ghé qua tham yết Hạc Lâm Huyền Tố (), rồi Xuất Gia ngay trong ngày ấy và về sau kế thừa dòng pháp của vị này. Sau đó, ông đến sống tại Tây Sơn (西, tức Kính Sơn []) thuộc Dư Hàng (, Tỉnh Triết Giang) và trở thành sơ tổ của Phái Kính Sơn. Đến năm thứ 3 (768) niên hiệu Đại Lịch (), ông vào cung nội, Thuyết Pháp cho vua Đại Tông, cho nên ông được ban tặng hiệu Quốc Nhất Đại Sư () và tên chùa Kính Sơn Tự (). Các vị Tướng Công Thôi Hoán (), Bùi Tấn Công Độ (), Đệ Ngũ Kỳ (), Trần Thiếu Du (), v.v., đã từng bái ông làm thầy. Ngay chính như những nhân vật nổi tiếng của Nam Tông Thiền như Tây Đường Trí Tàng (西), Thiên Hoàng Đạo Ngộ (), Đơn Hà Thiên Nhiên (), v.v., cũng đã từng đến tham vấn với ông. Vào năm thứ 6 (790) niên hiệu Trinh Nguyên (), ông chuyển đến trú tại Tịnh Độ Viện () của Long Hưng Tự () và đến tháng 12 năm thứ 8 (792) thì Thị Tịch, hưởng thọ 79 tuổi đời và 50 Hạ Lạp. Vua Đức Tông ban cho Thụy HiệuĐại Giác Thiền Sư (); Lý Cát Phụ () soạn ra Hàng Châu Kính Sơn Tự Đại Giác Thiền Sư Bi Minh Tinh Tự ().