Kính Sơn Phật Giám

《徑山佛鑒》 jìng shān fú jiàn

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

(1178-1249) Vị Thiền tăng Trung Quốc sống vào đời Tống, thuộc tông Lâm tế, người Tử đồng, tỉnh Tứ xuyên, họ Ung, tên Sư Phạm, hiệu Vô chuẩn. Năm lên 9 tuổi, sư theo ngài Đạo Khâm Xuất Gia ở Âm bình và năm Thiệu hi thứ 5 (1194)Thụ Giới Cụ Túc, 2 năm sau, hạ An Cư ở chùa Chính Pháp tại Thành đô. Năm 20 tuổi, sư vào cửa ngài Tú nham Sư thụy ở núi Dục vương, một Pháp Tòa nổi tiếng ở vùng Đông nam. Sư nghèo không có tiền cạo tóc, người đương thời gọi là Ô Đầu Tử (chú đầu đen). Về sau, sư đến chùa Linh ẩn ở Hàng châu, tham yết ngài Tùng Nguyên Sùng Nhạc, rồi đến Nam Sơn ở 6 năm. Bấy giờ sư nghe tin ngài Phá Am Tổ Tiên đang ở Tây hoa Tú phong tại Tô châu, sư liền đến đó xin y chỉ. Chưa bao lâu, sư lại đến chùa Hoa tạng ở Thường châu, theo học ngài Độn am Tông diễn, ít lâu sau, sư lại trở về chùa Linh ẩn. Lúc bấy giờ, quan Thị Lang là Trương tư sáng lập chùa Quảng huệ, thỉnh ngài Phá Am Tổ Tiên trụ trì, sư cũng đến Thị Giả ngài 3 năm, rồi lại theo ngài Phá am lên Kính Sơn. Lúc sắp tịch, ngài Phá am đem pháp y đính tướng của thầy mình là ngài Hàm Kiệt truyền trao cho sư. Năm Thiệu định thứ 5 (1232), sư vâng sắc chỉ trụ trì chùa Kính Sơn. Năm sau, sư phụng chiếu vào cung Thuyết Pháp, vua thâm cảm và ban cho sư Danh Hiệu Phật Giám Thiền Sư và vàng bạc châu báu để trùng tu chùa Kính Sơn. Ngày 15 tháng 3 năm Thuần Hựu thứ 9 (1249), sư họp Đệ Tử để dặn dò hậu sư, đến ngày 18 sư Thị Tịch, thọ 72 tuổi. Sư có tác phẩm: Vô Chuẩn Sư Phạm Thiền Sư Ngữ Lục, 5 quyển, Vô chuẩn Hòa Thượng tấu đối Ngữ Lục, 1 quyển. [X. Thích Thị Kê Cổ Lược Q. 4.; Đại Minh Cao Tăng Truyện Q. 8.; Tục Truyền Đăng lục Q. 35.].