Kim Linh
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: linh vàng. Linh (Sanskrit: ghaṇṭā, 鈴) là một loại Pháp Khí dùng đánh lên trước bàn Phật khi tụng kinh; được chế bằng loại đồng xanh, đồng đỏ. Loại Pháp Khí này còn có tên là Kim Cang Linh (金剛鈴), Kim Linh, hình như cái chuông, bên trong có treo quả cầu đồng. Trong Mật Giáo, khi tu pháp, Linh được dùng để làm kinh động, tỉnh giác chư tôn, hay khiến cho chư vị hoan hỷ. Cho nên Linh có 3 nghĩa là làm kinh động tỉnh giác, làm cho hoan hỷ, và Thuyết Pháp. Khi làm cho Linh kêu vang để cúng dường chư tôn, được gọi là Chấn Linh (振鈴). Linh có 5 loại là Độc Cổ Linh (獨鈷鈴), Tam Cổ Linh (三鈷鈴), Ngũ Cổ Linh (五鈷鈴), Bảo Linh (寶鈴), Tháp Linh (塔鈴). Kim Cang Linh là hình Tam Muội Da (三昧耶) của Kim Cang Linh Bồ Tát (金剛鈴菩薩). Như trong Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈會元, CBETA No. 1565) quyển 20 có câu: “Giải mãnh hổ hạm hạ Kim Linh, kinh quần động chúng; thủ thương long huyệt lí Minh Châu, quang thiên chiếu địa (解猛虎頷下金鈴、驚群動眾、取蒼龍穴裏明珠、光天照地, tháo dưới cằm hổ dữ Kim Linh, kinh động quần chúng; lấy châu sáng trong huyệt rồng xanh, sáng tỏ trời đất).” Hay trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, CBETA No. 1277) cũng có câu: “Thượng lai chấn động Kim Linh, hô chiêu nhữ đẳng quỷ chúng, nhiên thả nhữ đẳng tùng Địa Ngục trung xuất, Nghiệp Đạo trung lai, sạ văn luy bạt chi thanh, tất khởi kinh hoàng chi niệm (上來振動金鈴、呼召汝等鬼眾、然且汝等從地獄中出、業道中來、乍聞鏍鈸之聲、必起驚惶之念, nhân nay chấn động Kim Linh, mời gọi quỷ chúng các người, như vậy các người từ trong Địa Ngục ra, từ trong Nghiệp Đạo đến, vừa nghe tiếng não bạt, tất khởi niệm kinh hoàng).”