Kim Cương Thủ Bồ Tát

《金剛手菩薩》 jīn gāng shǒu pú sà

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Kim Cương thủ, Phạm: Vajra-pàịi. Hán âm: Phạt Chiết La Bá Ni, hoặcVajradhara (Hán âm: Phạt Chiết La đà la). Tạng:Lag-na rdo-rje. Cũng gọi: Chấp Kim Cương Bồ Tát, Bí Mật Chủ Bồ Tát, Kim Cương chủ Dược Xoa tướng. Chỉ cho các vị Bồ Tát cầm chày Kim Cương trong viện Kim Cương thủ thuộc Mạn Đồ La Thai Tạng Giới Mật giáo. Vị Bồ Tát náy cũng đặc biệt được dùng để gọi Lực Sĩ Kim Cương mật tích, như kinh Tăng nhất a hàm quyển 22 nói, Lực Sĩ Kim Cương mật tích cầm chày Kim Cương đứng ở phía sau đức Như Lai. Đại Nhật Kinh Sớ quyển 1 thì nói, Kim Cương thủ theo nghĩa nông cạn là chỉ cho Dạ Xoa cầm chày Kim Cương, thường theo hầu đức Phật; còn theo nghĩa sâu xa thì chỉ cho Kim Cương tát đỏa, biểu thị cho Tam Mật thân, ngữ, ý của đức Đại Nhật Như Lai. Lí thú thích quyển thượng thì cho rằng vị Bồ Tát này chính là Bồ Tát Phổ Hiền, vì ngài Phổ Hiền đích thân tiếp nhận chày Kim Cương từ tay đức Phật Tì Lô Giá Na. Nhưng trong kinh Bát Đại Bồ Tát Mạn Đồ La do ngài Bất Không dịch, thì trong 8 vị Bồ Tát có 2 Bồ Tát Phổ HiềnKim Cương thủ khác nhau; Bồ Tát Kim Cương thủ thân mầu xanh, ngồi bán già, đầu đội mũ Ngũ Phật, tay phải cầm chày Kim Cương, tay trái để ở chỗ thắt lưng; Chân Ngôn là: Án tông ra phạ sa phạ ha. [X. kinh Nhập lăng già Q. 8.; kinh Đại giáo vương Q. 1. (ngài Thí Hộ dịch); Kinh Sư tử Trang Nghiêm vương Bồ Tát thỉnh vấn; kinh Đại Thừa bát đại mạn noa la].