Kiền Trắc

《犍陟》 jiān zhì

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Kaịỉhaka, Kanthaka. Pàli:Kanthaka. Cũng gọi: Kiền đức, Càn trắc, Kiển đặc, Ca tha ca. Tên con ngựa mà thái tử Tất Đạt Đa cỡi khi vượt thành Xuất Gia. Cứ theo kinh Phật Bản Hạnh tập quyển 20, sau khi đưa Thái tử đi Xuất Gia, Kiền Trắc trở về thành, bị vua Tịnh phạn trách mắng nặng nề, trong lòng buồn bã, không bao lâu mệnh chung, sinh lên cõi trời Đao Lợi. Về sau, biết Thái tử đã thành đạo. Kiền Trắc(bây giờ là người cõi trời)bỏ mệnh, sinh xuống thành Na ba ở nước Trung Thiên Trúc, làm con của 1 người Bà La Môn, lớn lên, người con Bà La Môn ấy đến chỗ đức Phật nghe Ngài Thuyết Pháp, được giải thoát và vào Niết Bàn. Trong những bức tranh khắc nổi miêu tả Thái tử cỡi ngựa Kiền Trắc vượt thành Xuất Gia, thì bức khắc ở trên lan can của Đại Tháp A Ma La Bà Đề (Phạm:Amaràvatì) hiện còn là xưa nhất. Còn tại viện bảo tàng Calcutta có bức tranh khắc nổi đào được ở vùng Kiện đà la (Pàli, Phạm:Gandhàra) trong đó khắc 4 vị trời nâng 4 chân Kiền Trắc, Trời Đế Thích cầm lọng che cho Thái tử đang ngồi trên lưng ngựa, có những người trời Cung Kính theo sau. Trong động thứ 2 của Linh nham quật Tự Tại Đại Đồng, Trung Quốc, cũng còn những bức khắc nổi loại này. [X. kinh Quá Khứ hiện tại Nhân Quả Q. 2.; kinh Tu hành bản khởi Q.hạ; kinh Lục Độ tập Q. 7.].