Khổng Tước Vương Triều

《孔雀王朝》 kǒng què wáng cháo

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Triều vua thời xưa ở Ấn Độ trị vì được 137 năm (từ năm 317-180 trước Tây lịch). Năm 327 trước Tây lịch, Đại đế Á Lịch Sơn Đại (Alexandre) người Hi lạp, xâm lược Ấn Độ. Thời bấy giờ, vương triều Nan Đà (Phạm: Nanda) nước Ma Kiệt Đà (Phạm: Magadha), xưng bá ở vùng đồng bằng Sông Hằng, Bắc Ấn Độ. Vua Chiên Đà La Cấp Đa (Phạm:Chandragupta), thừa cơ nổi lên, bình định Bắc Ấn Độ, đặt thủ đô ở thành Ba liên phất (Phạm:Pàỉaliputra), nước Ma Kiệt Đà, sáng lập vương triều Khổng tước (Phạm:Maurya), dựng nên một đại đế quốc trung ương tập quyền thống nhất trong lịch sử Ấn Độ. Đến thời vua A dục (Phạm: Azoka) cháu của vua Chiên Đà La Cấp Đa là thời cực thịnh của vương triều này. Về mặt đối ngoại, vua A dục đã thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước Ai cập, Hi lạp, còn đối nội thì vua dùng Pháp (Phạm: Dharma) làm lí tưởng chính trị để sửa sang việc nước, đồng thời, xây dựng các cơ sở phúc lợi trong nước. Vua A dục qui y Phật giáo nên dưới sự ủng hộ của vua, Phật giáo đã được phổ cập không những trên toàn cõi Ấn Độ, mà còn được truyền bá đến vùng Trung á, các nước Tích lan, Miến điện, v.v... Vào thời kì này, giáo đoàn Phật giáo chia làm Thượng Tọa Bộ (Phạm:Theravàda)Đại Chúng Bộ (Phạm: Mahàsaíghika). Vua A dục tuy sùng tín Phật giáo nhưng không hề bài xích các tôn giáo khác, cho nên, dưới chính sách khoan dung của vua, Kì na giáo và Bà La Môn Giáo cũng dần dần hưng thịnh, phát triển. Sau khi vua A dục băng hà, thế lực của vương triều Khổng tước cũng mất dần. Khoảng năm 180 trước Tây lịch, tướng quân Phất Sa Mật Đa La (Phạm:Puwyamitra) làm phản, giết vua, không bao lâu Ấn Độ lại rơi vào tình trạng phân chia.