Khai Đạo Y

《開導依》 kāi dǎo yī

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Cũng gọi Khai tị pháp, Khai Đạo Căn, Đẳng Vô Gián Duyên y (Phạm: Samanantara -pratyaya), Đẳng vô gián y. Danh từ này do Tông Pháp tướng đặt ra. Một trong 3 loại duyên làm chỗ nương (y) cho tâm, Tâm Sở khi khởi Tác Dụng. Những hoạt động Tâm Thức của con người cứ Niệm Niệm nối nhau, không có gián đoạn, một niệm trước vừa diệt mất thì niệm sau liền Sinh Khởi, giữa khoảng niệm trước niệm sau Sinh Diệt này, có mối quan hệ rất mật thiết. Tức là Tâm Vương của một niệm trước mở đường và làm chỗ nương dựa(Khai Đạo Y)cho Tâm Vương, Tâm Sở của một niệm sau Sinh Khởi, vì thế gọi là Khai Đạo Y. Tâm Vương của niệm trước mở đường dẫn sinh Tâm Vương, Tâm Sở của niệm sau, trong đó có mối quan hệ dẫn sinh đồng loại, dị loại. Về vấn đề này, giữa các vị Luận sư ở Ấn Độ thời xưa như các ngài: Nan Đà, An tuệ, Hộ Pháp, v.v... đều có kiến giải khác nhau.
1. Ngài Nan Đà cho rằng 5 thức: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân đều từ thức thứ 6 phát sinh, còn thức thứ 6 thì tự nó có Công Năng làm cho niệm trước niệm sau nối nhau, lại vừa có năng lực sinh ra 5 thức trước, vì Thế Thức thứ 6 là Khai Đạo Y(mở đường dẫn sinh)của cả 6 thức. Thức Mạt na thứ 7 và thức A lại da thứ 8 chỉ có năng lực tương tục chính mình, chứ không thể sinh các thứ khác.
2. Ngài An tuệ thì chủ trương: Thức thứ 6 lấy chính nó và thức thứ 7, thức thứ 8 làm Khai Đạo Y, thức thứ 7 lấy chính nó và thức thứ 6 làm Khai Đạo Y, thức thứ 8 lấy chính nó và thức thứ 6, thứ 7 làm Khai Đạo Y. Ý kiến của 2 vị Luận sư trên tuy có khác nhau, nhưng đều đồng ý rằng các Tâm Vương khác loại có thể làm Khai Đạo Y cho nhau.
3. Ngài Hộ Pháp thì cho rằng 8 thức Tâm Vương đều tự giới hạn trong mỗi thức, cho nên Tâm Vương này không thể làm Khai Đạo Y cho Tâm Vương khác. Kiến giải này của ngài Hộ Pháp trái với quan điểm của 2 vị Luận sư trên. [X. luận Thành Duy Thức Q. 4.; Thành Duy Thức Luận Thuật Kí Q. 5. phần đầu; Thành Duy Thức Luận Liễu Nghĩa Đăng Q. 4. phần cuối].