Khai Đàn

《開壇》 kāi tán

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: tức khai mở đàn Mạn Trà La (Sanskrit: Maṇḍala, ) để Truyền Pháp Quán Đảnh. Vị thầy tự khai Đạo Tràng, Truyền Pháp Quán Đảnh cho Đệ Tử được gọi là Khai Đàn A Xà Lê (). Bên cạnh đó, nó còn có nghĩa là khai mở Đàn Tràng để tiến hành Kết Giới, Chẩn Tế Âm Linh Cô Hồn, Giải Oan Bạt Độ, truyền thọ Giới Pháp, v.v. Như trong Thích Giáo Bộ Vị Khảo (, Tục Tạng Kinh Vol. 77, No. 1521) quyển 3, phần Liêu (), có đoạn: “Thái Khang ngũ niên, Thu cửu nguyệt Kỷ Mão, chiếu chư lộ, vô cấm Tăng Đồ Khai Đàn; Đông thập nhất nguyệt Đinh Sửu, chiêu Sa Môn Thủ Đạo, Khai Đàn ư nội điện (殿, vào năm thứ 5 [284] niên hiệu Thái Khang [vua Võ Đế nhà Tây Tấn], mùa Thu tháng 9 Kỷ Mão, hạ chiếu cho các nơi không được cấm chư tăng khai mở Đàn Tràng; đến mùa Đông tháng 11 Đinh Sửu, cho mời Sa Môn Thủ Đạo, khai mở Đàn Tràng tại nội điện).” Hay trong bài tựa của Kim Cang Kinh Chú Thích (, Tục Tạng Kinh Vol. 25, No. 494) lại có đoạn: “Nhân thỉnh ư Như Lai, đắc từ bi chỉ, Khai Đàn thiết giảng, phàm tứ thập nhật cáo thành (, nhân thỉnh cầu đức Như Lai, được ý chỉ từ bi, bèn Khai Đàn thuyết giảng, được bốn mươi ngày thì tuyên bố xong).”