Giác Linh

《覺靈》 jué líng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: Linh Hồn đã giác ngộ, hay đã tìm thấy con đường; từ này được dùng cho các vị Xuất Gia đã Viên Tịch. Chữ giác (s, Pāli: bodhi ) ở đây có âm dịch là Bồ Đề (), là trí tuệ chứng ngộ Diệu Lý Niết Bàn; Cựu Dịch là đạo (), Tân Dịch là giác. Như trong Thiền Uyển Thanh Quy (, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1245) quyển 7, phần Vong Tăng (), có đoạn dùng từ Giác Linh này cho vị tu sĩ qua đời: “Dụng biểu vô thường, ngưỡng bằng tôn chúng, phụng vị một cố mỗ nhân Thượng Tọa, tư tợ Giác Linh Vãng Sanh Tịnh Độ (歿, thể hiện vô thường, ngưỡng mong đại chúng, kính vì Thượng Tọa … đã qua đời, trợ giúp Giác Linh Vãng Sanh Tịnh Độ).” Trong Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy (, Taishō Vol. 48, No. 2025) quyển 6, phần Vong Tăng (), còn cho biết rằng: “Bài thượng thư vân: 'Tân Viên Tịch mỗ giáp Thượng Tọa Giác Linh' (, trên Bài Vị ghi rằng: 'Giác Linh Thượng Tọa … mới Viên Tịch').” Hay trong Tế Điên Đạo Tế Thiền Sư Ngữ Lục (, Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1361) cũng có đoạn rằng: “Cung duy Viên Tịch Tử Hà Đường Thượng Tánh Không Đại Hòa Thượng Bổn Công Giác Linh (, kính nghĩ Giác Linh Bổn Công Đại Hòa Thượng Tánh Không Tử Hà Đường Thượng đã Viên Tịch).” Ngay cả trong văn thỉnh 12 loại Cô Hồn của Tu Tập Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (, Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1083), đoạn thỉnh các tu sĩ quá cố cũng dùng từ Giác Linh này: “Nhất Tâm triệu thỉnh, xuất trần Thượng Sĩ, Phi Tích Cao Tăng, tinh tu Ngũ Giới Tịnh Nhân, Phạm Hạnh Tỳ Kheo Ni chúng, …, Như Thị chuy y Thích Tử chi lưu, nhất loại Giác Linh đẳng chúng (, một lòng triệu thỉnh, xuất trần Thượng Sĩ, vân du Cao Tăng, ròng tu Năm Giới Tịnh Nhân, Phạm Hạnh Tỳ Kheo Ni chúng, …, như vậy áo đen tu sĩ các dòng, một loại Giác Linh các chúng).”