Giác Lãng Đạo Thạnh

《覺浪道盛》 jué làng dào shèng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Kakurō Dōsei, 1592-1659: vị tăng của Tào Động Tông Trung Quốc, tự là Giác Lãng (), hiệu Trượng Nhân (), xuất thân Phố Thành (), Kiến Ninh (, Tỉnh Phúc Kiến), họ Trương (). Năm 19 tuổi, ông Xuất Gia ở Thoại Nham (), rồi đến tham vấn Minh Huệ Kinh ()Thọ Xương Tự () và thọ Cụ Túc Giới ở Bác Sơn (). Sau đó, ông lại đến hầu hạ Hối Đài Nguyên Kính () ở Đông Uyển (), pháp từ của Huệ Kinh, và có chỗ sở ngộ. Vào năm thứ 47 (1619) niên hiệu Vạn Lịch (), ông bắt đầu Khai Đường thuyết giáo ở Quốc Hoàn Tự (). Từ đó trở đi, ông sống qua một số nơi khác như Linh Cốc Tự () ở Kim Lăng (, Tỉnh Giang Tô), Long Hồ Tự () ở Ma Thành (, Tỉnh Hồ Bắc), Thọ Xương Tự () ở Tân Thành (, Tỉnh Giang Tây), Khuông Sơn Viên Thông Tự (), v.v. Đến năm thứ 3 (1646) niên hiệu Thuận Trị (), ông làm trú trì Thiên Ninh Tự () ở Giang Nam (, Tỉnh Giang Tô) và xiển dương Thiền Phong nơi đây. Vào ngày mồng 7 tháng 9 năm thứ 16 (1659) cùng niên hiệu trên, ông Thị Tịch, hưởng thọ 68 tuổi đời và 49 Hạ Lạp. Pháp từ của ông có 29 vị. Lưu Dư Mô () soạn văn bia tháp, Trúc Am Thành () biên tập Hành Trạng của ông. Suốt trong hơn 40 năm Thuyết Pháp của ông đều được thâu lục vào trong Thiên Giới Giác Lãng Thạnh Thiền Sư Toàn Lục () 33 quyển, Thiên Giới Giác Lãng Thiền Sư Ngữ Lục () 12 quyển, Thiên Giới Giác Lãng Thiền Sư Gia Hòa Ngữ Lục () 1 quyển, v.v. Đặc biệt, ông còn để lại một số trước tác như Lẫm Sơn Trung Công Truyện () 1 quyển, Phật Tổ Nguyên Lưu Tán (), Truyền Đăng Chánh Tông (), Tôn Chánh Quy (), Động Tông Tiêu Chánh ().

Giác Lãng Đạo Thạnh. Từ Điển Phật Học Vibudra. https://www.vibudra.org/glossary/thuatngu/giac-lang-djao-thanh. Truy cập 06/04/2026.