Giác Ngạn
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: bờ bên kia của giác ngộ, tức cảnh giới của Phật. Như trong Pháp Hoa Kinh Huyền Tán Quyết Trạch Ký (法華經玄贊決擇記, CBETA No. 637) có giải thích rằng: “Giác Ngạn giả, Phật Quả dã; nhiên Phật Thuyết pháp, vọng linh Chúng Sanh Tất Cánh ly thử Sanh Tử khổ tân, chung cứu đăng vu Phật Quả Bỉ Ngạn (覺岸者、佛果也、然佛說法、望令眾生畢竟離此生死苦津、終究登于佛果彼岸, bờ giác là quả Phật; vì vậy đức Phật Thuyết pháp, khiến cho Chúng Sanh rốt cuộc xa lìa bến bờ khổ Sanh Tử, cuối cùng lên quả Phật bờ bên kia).” Trong Luật Yếu Hậu Tập (律要後集, CBETA No. 1124) có đoạn: “Mạng chung chi hậu, sanh chư Phật Tiền, chứng bất tư nghì, giải thoát cảnh giới, phổ năng du hý, xuất nhập Trần Lao, tận độ mê lưu, đồng đăng Giác Ngạn, hư Không Hữu tận, ngã nguyện vô cùng, quy mạng Đảnh Lễ, Nhất Thiết Tam Bảo (命終之後、生諸佛前、證不思議、解脫境界、普能遊戲、出入塵勞、盡度迷流、同登覺岸、虛空有盡、我願無窮、歸命頂禮、一切三寶, sau khi mạng hết, sanh trước chư Phật, Chứng Không nghĩ bàn, giải thoát cảnh giới, vui chơi cùng khắp, ra vào Trần Lao, độ khắp dòng mê, cùng lên bờ giác, Hư Không có tận, nguyện con không cùng, quy mạng Đảnh Lễ, hết thảy Tam Bảo).”