Du Già

《瑜伽》 yú jiā

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s, Pāli: yoga: ý dịch là tương ứng Tương Ưng; nương vào phương pháp điều tức (hô hấp), v.v., tập trung Tâm Niệm ở một điểm; tu chủ yếu pháp Chỉ Quán (), cùng nhất trí với lý Tương Ưng. Đối với Mật Giáo, rất thịnh hành thuyết gọi là Tam Mật Du Già Tương Ưng (), hay Tam Mật Tương Ưng (). Hành Giả thực Hành Pháp quán hạnh Du Già này, được gọi là Du Già(). Bộ Du Già Sư Địa Luận () thuyết về 17 cảnh địa, từ Ngũ Thức Thân Tương Ưng Địa () cho đến Vô Dư Y Địa (). Học phái Hành Trì theo luận thư này được gọi là Du Già Phái (). Riêng về phía Ngoại Đạo, cũng có những nhà Ngoại Đạo Du Già. Tam Muội (s, Pāli: samādhi ), Thiền Định (Sanskrit: dhyāna, Pāli: jhāna ) là những Pháp Thực hành Du Già. Theo Thành Duy Thức Luận Thuật Ký (, Taishō Vol. 43, No. 1830) quyển 2, nghĩa của Tương Ưng có 5: (1) Tương Ưng với cảnh, nghĩa là tự Tánh Không sai tất cả pháp. (2) Tương Ưng với hành, nghĩa là Tương Ưng với định, tuệ, v.v. (3) Tương Ưng với lý, là lý của Nhị Đế () về An Lập hay không An Lập, v.v. (4) Tương Ưng với quả, nghĩa là có thể Chứng Đắc quả vô thượng Bồ Đề. (5) Tương Ưng với cơ, nghĩa là đã được quả tròn đầy, lợi sanh cứu vật, tùy Cơ DuyênCảm Ứng, thuốc và bệnh tương ứng với nhau. Trong 5 nghĩa nêu trên, Hiển Giáo phần nhiều lấy Nghĩa Tương ưng với lý. Trong bản Tu Thiết Du Già Tập Yếu Thí Thực Đàn Nghi (, Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1081) có định nghĩa rõ rằng: “Phạn ngữ Du Già, Hoa ngôn Tương Ưng, vị Tam Nghiệp đồng thời, nhi bất tiên hậu, cọng duyên nhất cảnh dã; Thủ Kết ấn thời, khẩu tất tụng chú, ý tất Tác Quán, Tam Nghiệp tề thí, vô Hữu Tham sai, thỉ danh Tương Ưng (, tiếng Phạn Du Già, Tàu gọi là Tương Ưng, tức Ba Nghiệp đồng thời, mà không trước sau, duyên chung vào một cảnh vậy; khi tay bắt ấn, miệng phải tụng chú, ý phải Quán Tưởng; Ba Nghiệp cùng thí, không có sai khác, mới gọi là Tương Ưng).” Bên cạnh đó, trong lời tựa đầu của Du Già Tập Yếu Thí Thực Nghi Quỹ (, Tục Tạng Kinh Vol. 59, No. 1080) có giải thích rằng: “Du Già Pháp Môn, giai tùng Phạn thư tự chủng khởi quán, xuất sanh Nhất Thiết quảng đại Thần Biến, phổ lợi hữu tình (, Pháp Môn Du Già, đều từ sách loại chữ Phạn mà bắt đầu quán, sinh ra hết thảy Thần Biến to lớn, lợi khắp Chúng Hữu tình).” Cũng điển tịch này có đoạn rằng: “Cẩn y Du Già giáo, kiến Trí Khải pháp diên, phổ thí Chư Hữu tình, giai cộng Thành Phật đạo (, kính theo Du Già giáo, thiết lập bày pháp diên, thí khắp các hữu tình, đều cọng Thành Phật đạo).” Hiện tại trong hầu hết các tự viện Phật Giáo Việt Nam đều dùng nghi thức Du Già Thí Thực để tiến cúng các âm linh Cô Hồn thông qua Đàn Tràng Chẩn Tế hay Thủy Lục Pháp Hội. Nghi thức này được thâu lục rất đầy đủ trong bộ Trung Khoa Du Già Tập Yếu () hay Đại Khoa Du Già Tập Yếu (). Tất cả những bản này đều dựa theo bản Du Già Tập Yếu Thí Thực Nghi Quỹ do Vân Thê Châu Hoằng (, 1535-1615), Tổ thứ 8 của Tịnh Độ Tông Trung Quốc soạn; bản lời tựa ghi dòng chữ: “Thời Vạn Lịch tam thập tứ niên, tuế thứ Bính Ngọ trọng Hạ vọng nhật Vân Thê Châu Hoằng cẩn chí (, lúc bấy giờ niên hiệu Vạn Lịch thứ 34 [1606], ngày rằm tháng 5 năm Bính Ngọ, Vân Thê Châu Hoằng kính ghi).” Bản Hiện Hành thông dụng nhất tại Huế là Chánh Khắc Trung Khoa Du Già Tập Yếu (), tàng bản tại Sắc Tứ Báo Quốc Tự (), được khắc vào mùa Đông năm Mậu Tý (1888) thời vua Đồng Khánh (, tại vị 1885-1889), do Đại Lão Hòa Thượng Hải Thuận Lương Duyên (, 1806-1892), Tăng Cang Chùa Diệu Đế (), chứng minh.