Đại Nguyện Nghiệp Lực

《大願業力》 dà yuàn yè lì

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Chỉ cho sức Nghiệp Nhân của Đại Nguyện. Từ ngữ này được thấy trong các tác phẩm của các sư Đàm Loan, Đạo Xước, Thiện Đạo v.v... Đối với nhóm từ này, tông Tịnh Độ đưa ra nhiều cách giải thích:
1. Chỉ cho sức Nghiệp Nhân của Đại Nguyện: Sự Trang Nghiêm của Tịnh ĐộCông Đức từ bi cứu độ Chúng Sinh, tất cả không ngoài sức Tác Dụng của Bản Nguyện của Phật A di đà mà có.
2. Chỉ cho sức Đại Nguyện, sức đại nghiệp: Sự Phát Nguyện và tu hành của Bồ Tát Pháp Tạng (tên Phật A di đà khi Phát NguyệnNhân Vị). Bồ Tát Pháp Tạng tư duy về việc cứu độ Chúng Sinh mà kiến lập 48 nguyện nên gọi Đại Thệ Nguyện Lực; sau khi Phát Nguyện, Bồ Tát tích chứa Công Đức muôn hạnh sáu độ trải bao nhiêu đại kiếp nên gọi là Đại Nghiệp Lực.
3. Chỉ cho Đại Nguyện, Đại nghiệp, Đại Lực: Sức cứu độ của đức Phật A di đà là do kết quả của sự Phát Nguyện và tu hành của Bồ Tát Pháp Tạng mà được hoàn thành. [X. Quán Kinh Sớ Q. 1.; Vãng Sinh Luận chú Q.hạ; Quán kinh Huyền Nghĩa Phần khải định kí Q. 1.].