Đại Mạn Đồ La
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
I. Đại Mạn Đồ La. Mật giáo dùng năm mầu vàng, trắng, đỏ, đen, xanh tương ứng với năm đại (đất, nước, lửa, gió, không) để vẽ Hình Tượng của Phật và Bồ Tát có đầy đủ tướng hảo Trang Nghiêm, gọi là Đại Mạn Đồ La. Cũng gọi Ma Ha Mạn Đồ La, Đại mạn. Là một trong 4 loại Mạn Đồ La. Hoặc là thân của Hành Giả nhờ tu quán Ngũ Tướng thành thân mà Thành Tựu được Bản Tôn Du Già, thì cũng gọi là Đại Mạn Đồ La. Nếu nói theo Kim Cương Giới Mạn Đồ La, thì Mạn Đồ La đầu tiên trong sáu Mạn Đồ La đã được nói trong phẩm thứ nhất của kinh Kim Cương đính Du Già, tức là Đại Mạn Đồ La, tức là chỉ cho tượng vẽ các vị tôn trong hội Thành thân của Mạn Đồ La Kim Cương Giới. Đại Mạn Đồ La này có thể phối với tự tính Pháp Thân trong bốn thứ Pháp Thân, Thân Mật trong Tam Mật, Phật bảo trong Tam Bảo. [X. Lí thú thích Q.thượng; Tức Thân Thành Phật nghĩa; Đà La Ni môn chư bộ yếu mục].
II. Đại Mạn Đồ La. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Cũng gọi Luân Viên Cụ túc Mạn Đồ La, Thập Giới Khuyến Thỉnh Mạn Đồ La, Thập Giới Viên Cụ Mạn Đồ La. Tức là dùng đồ biểu văn tự để hiển bày nghi thức hội tọa của hội Hư Không trong 8 phẩm Bản Môn Kinh Pháp hoa theo thuyết của tông Nhật Liên Nhật bản.
II. Đại Mạn Đồ La. Tiếng dùng của Phật giáo Nhật bản. Cũng gọi Luân Viên Cụ túc Mạn Đồ La, Thập Giới Khuyến Thỉnh Mạn Đồ La, Thập Giới Viên Cụ Mạn Đồ La. Tức là dùng đồ biểu văn tự để hiển bày nghi thức hội tọa của hội Hư Không trong 8 phẩm Bản Môn Kinh Pháp hoa theo thuyết của tông Nhật Liên Nhật bản.