Đại Lữ
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
: có 2 nghĩa chính: (1) Tên gọi âm thanh thứ nhất trong 6 loại âm thanh thuộc về Âm, có hình dung âm nhạc hoặc ngôn từ Trang Nghiêm, chính đại, cao diệu, hài hòa. Âm này tương đương với âm Đoạn Kim (斷金, dangin) trong 12 âm luật của Nhật Bản, cao hơn Hoàng Chung (黃鐘) một luật. Như trong chương Xuân Quan (春官), Đại Ty Nhạc (大司樂) của Chu Lễ (周禮) có câu: “Nãi tấu Hoàng Chung, ca Đại Lữ, vũ Vân Môn, dĩ tự thiên thần (乃奏黃鐘、歌大呂、舞雲門、以祀天神, bèn tấu điệu Hoàng Chung, ca điệu Đại Lữ, múa khúc Vân Môn, để tế thiên thần).” (2) Tên gọi khác của tháng 12 Âm Lịch. Trong Nhạc Điển (樂典) quyển 143 có giải thích về Đại Lữ rằng: “Sửu vi Đại Lữ, thập nhị nguyệt chi thần danh Sửu; Sửu giả, nữu dã; ngôn cư chung thỉ chi tế, cố dĩ Sửu vi danh (丑爲大呂、十二月之辰名丑、丑者、紐也、言居終始之際、故以丑爲名, Sửu là Đại Lữ, chi của tháng Mười Hai là Sửu; Sửu là nữu [buộc, thắt], nghĩa là sống tận cùng từ đầu đến đuôi, nên lấy Sửu làm tên).” Trong Biện Chánh Luận (辯正論, Taishō Vol. 52, No. 2110) quyển 4 có đoạn: “Viên hữu trung Thiên Trúc quốc Tam Tạng Pháp Sư, bổn Sát Lợi vương chủng tánh, Sát Lợi đế danh Ba La Phả Ca La Mật Đa La, Đường ngôn tác Minh Tri Thức, viễn văn Đường quốc hoằng xiển Đại Thừa, cố thiệp Thông hà lai du Thánh thế, dĩ Trinh Quán nguyên niên Đại Lữ chi nguyệt, cung tê Phạn bản đạt hồ thượng kinh (爰有中天竺國三藏法師、本剎利王種姓、剎利帝名波羅頗迦羅密多羅、唐言作明知識、遠聞唐國弘闡大乘、故涉蔥河來遊聖世、以貞觀元年大呂之月、躬齎梵本達乎上京, bèn có Tam Tạng Pháp Sư nước Thiên Trúc [Ấn Độ], vốn dòng họ vua Sát Đế Lợi, vua Sát Đế Lợi tên là Ba La Phả Ca La Mật Đa La, Tàu gọi là Minh Tri Thức, xa nghe nhà Đường xiển dương Đại Thừa rộng khắp, nên vượt qua sông Thông mà đến giao du với nhà vua; vào tháng Chạp năm đầu [627] niên hiệu Trinh Quán, Cung Kính mang các Bản Kinh tiếng Phạn lên kinh đô).”