Diên Mệnh Ấn Minh

《延命印明》 yán mìng yìn míng

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Ấn TướngChân Ngôn được trì tụng trong pháp tu Diên mệnh (cầu sống lâu) của Mật giáo. Ấn TướngChân Ngôn này thông thường được sử dụng trong các pháp tu như: Diên Mệnh Pháp, Phổ Hiền Diên Mệnh Pháp v.v... Tức là Ấn TướngChân Ngôn của Bồ Tát Phổ Hiền diên mệnh. Ấn TướngChân Ngôn này có các tên gọi khác nhau trong những kinh quĩ bất đồng. Chẳng hạn như trong Kim Cương thọ mệnh Đà La Ni tụng Niệm Pháp, nó được gọi là Kim Cương thọ mệnh Bồ Tát Đà La Ni ấn, trong Kim Cương thọ mệnh Đà La Ni kinh pháp nó được gọi là Kim Cương thọ mệnh gia trì giáp trụ Mật Ấn. Trong hai kinh quĩ trên và trong Du Già quĩ đều có ghi chép rõ ràng cách Kết Ấn khế như sau: Hai tay đều nắm lại thành Kim Cương Quyền (nắm tay Kim Cương), hai ngón trỏ duỗi ra, ép sát lại và móc vào nhau đặt lên đỉnh đầu. Ngón trỏ (ngón gió) bên trái biểu thị tắt gió Sinh Diệt của Phàm Phu; ngón trỏ bên phải biểu thị gió Sinh Mệnh Kim Cương Bất Hoại của cảnh giới Phật. Hai ngón trỏ móc nối vào nhau, ý là gió Sinh Mệnh phần đoạn Sinh Diệt của Chúng Sinh và gió Sinh Mệnh đệ nhất Thường Trụ của Như Lai hòa hợp vào nhau, biểu thị sự tiến vào cõi vốn chẳng sinh, tức là trong cảnh giới thọ mệnh Kim Cương Chúng Sinh và Phật là một mà Thành Tựu Công Đức kéo dài sự sống. Chân Ngôn là: Án (oô, qui mệnh) phạ nhật la (vajra, Kim Cương) dụ sái (yuwai, thọ mệnh) sa phạ ha (svàhà, Thành Tựu).