Diêm Ma Thập Điện

《閻魔十殿》 yán mó shí diàn

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: còn gọi là Diêm Vương Thập Điện (殿), Thập Điện Diêm Vương (殿), Thập Điện Minh Vương (殿), Thập Điện Từ Vương (殿). Nguyên Lai chỉ có một vị Diêm Vương, nhưng sau khi Phật Giáo được truyền vào Trung Quốc, Tín Ngưỡng về Diêm Vương có ảnh hưởng to lớn đối với hệ thống Tín Ngưỡng tôn giáo ở đây, trải qua nhiều biến hóa, Hán hóa sắc thái và cuối cùng quan niệm này trở thành Thập Điện Diêm Vương. Kinh Điển ban đầu của Phật Giáo không có đề cập đến Thập Điện Diêm Vương. Tỷ dụ như theo Cấm Độ Tam Muội Kinh (), Diêm Vương chỉ quản hạ 5 vị quan, gồm: Tiên Quan () chuyên ngăn cấm sát sanh, Thủy Quan () chuyên ngăn cấm trộm cắp, Thiết Quan () chuyên ngăn cấm Tà Dâm, Thổ Quan () chuyên ngăn cấm nói lời hai lưỡi và Thiên Quan () cấm việc uống rượu. Hơn nữa, trong Phật Tổ Thống Kỷ () quyển 33, bộ sử truyện nổi tiếng của Phật Giáo Trung Quốc, có ghi rằng: “Trên đời truyền tụng rằng Hòa Thượng Đạo Minh () nhà Đường thần du xuống Địa Phủ, thấy có 15 hạng người thuộc hạ (của Diêm Vương), từ đó lưu truyền trên Thế Gian.” Như vậy, thuộc hạ của Diêm Vương đã biến thành 15 người. Danh Hiệu của Thập Điện Diêm Vương xuất hiện đầu tiên trong Dự Tu Thập Ngũ Sanh Thất Kinh (), Diêm Vương Kinh (), v.v. Căn cứ Ngọc Lịch Bảo Giám (), 10 ngôi điện do Linh Bảo Thập Phương Cứu Khổ Thiên Tôn () hóa thành, được 10 vị Diêm Ma (Sanskrit: Yama, ) cai quản, gồm: (1) Tần Quảng Vương (, Qín-guàng, hay Tần Quảng Vương Tương []), còn gọi là Thái Tố Diệu Quảng Chơn Quân (), cai quản ngôi điện thứ nhất, do Đông Phương Thiên Tôn () hóa thành, sống ở Huyền Minh Cung (), chịu trách nhiệm trông coi về Sanh Tử của của con người và quản lý toàn bộ việc cát hung của cõi u minh, ngày sinh của ông là mồng 2 tháng 2 âm lịch; quỷ Phán Quan của cõi này sống ngoài tảng đá Ốc Tiêu ([]) trong biển lớn; hướng chánh Tây của điện này là con đường tối om dẫn đến Huỳnh Tuyền (); nếu người làm ác thì sau khi chết sẽ bị nhập vào đài cao bên phải của điện này tên là Nghiệt Kính Đài (); đài cao 1 trượng, treo hướng về phía Đông, phía trên có 7 chữ lớn “Nghiệt Kính Đài tiền vô hảo nhân (, Trước Nghiệt Kính Đài không người tốt)”; sau khi được chiếu soi ở Nghiệt Kính Đài xong, Tội Nhân sẽ được phê giải xuống ngôi điện thứ hai để chịu ngục hình thọ khổ tùy theo tội nặng hay nhẹ. (2) Sở Giang Vương (, Chŭ-jiāng, hay Sở Giang Vương Lệ []), còn gọi là Âm Đức Định Hưu Chơn Quân (), cai quản ngôi điện thứ hai, do Nam Phương Thiên Tôn () hóa thành, sống tại Phổ Minh Cung () dưới đáy biển sâu, chịu trách nhiệm trông coi Hoạt Đại Địa Ngục (, Địa Ngục sống lâu), Hàn Băng Địa Ngục (, Địa Ngục băng lạnh) và Bác Y Đình (, nhà cởi áo) và 16 Địa Ngục bên dưới như Hắc Vân Sa (), Phẩn Niệu Nê (尿), Ngũ Xoa (), Cơ Ngạ (), Khát (), Nùng Huyết (), Đồng Phủ (), Đa Đồng Phủ (), Thiết Khải (), U Lượng (), Kê (), Hôi Hà (), Chước Tiệt (), Kiếm Diệp (), Hồ Lang (), Hàn Băng (). Ngày sinh của ông là mồng 3 tháng 3 âm lịch. (3) Tống Đế Vương (, Sòng-dì, hay Tống Đế Vương []), còn gọi là Động Minh Phổ Tĩnh Chơn Quân (), cai quản ngôi điện thứ ba, do Tây Phương Thiên Tôn (西) hóa thành, sống ở Trụ Tuyệt Cung (), chịu trách nhiệm trông coi Hắc Thằng Địa Ngục (Sanskrit: Kālasūtra-naraka, , Địa Ngục có sợi dây thừng đen), những ai bị kiện tụng, không vâng lời các bậc trưởng thượng, không thương mạng dân, sĩ thứ thấy lợi mà quên nghĩa, chồng bất nghĩa, vợ không thuận, từng thọ ân huệ mà phụ bạc, nô bộc phản gia chủ, hay phạm tội vượt ngục, trốn quân dịch, v.v., sau khi chết sẽ bị đọa vào Địa Ngục này. Ngày sinh của ông là mồng 8 tháng 2 âm lịch; (4) Ngũ Quan Vương (, Wŭ-guān, hay Ngũ Quan Vương Lữ []), còn gọi là Huyền Đức Ngũ Linh Chơn Quân (), cai quản ngôi điện thứ tư, do Bắc Phương Thiên Tôn () hóa thành, sống ở Thái Hòa Cung (), chịu trách nhiệm trông coi Hợp Đại Địa Ngục (Sanskrit: Saṅgāta-naraka, , Địa Ngục hợp lại thành to lớn) và Huyết Trì Địa Ngục (, Địa Ngục có hồ máu) cùng với 16 Địa Ngục nhỏ như Trì (), Mâu Liên Trúc Thiêm (), Phí Thang Kiêu Thủ (), Chưởng Bạn Lưu Dịch (), Đoạn Cân Dịch Cốt (), Yển Kiên Loát Bì (), Tỏa Phu (), Tồn Phong (), Thiết Y (), Mộc Thạch Thổ Ngõa (), Kiếm Nhãn (), Phi Hôi Tắc Khẩu (), Quán Dược (), Du Hoạt Điệt (), Thích Chủy (), Toái Thạch Mai Thân (). Những ai thường hay lừa dối sẽ bị đọa xuống Địa Ngục này; ngày sinh của ông là 18 tháng 2 âm lịch. (5) Diêm Ma Vương (, Yama-rāja, Yán-mó, còn gọi là Diêm La Vương [], Diêm Ma Vương Thiên Tử Bao []), còn gọi là Tối Thánh Diệu Linh Chơn Quân (耀), cai quản ngôi điện thứ năm, nguyên trước kia trông coi ngôi điện thứ nhất, nhưng vì đồng tình với Tội Nhân ở đây, nên bị chuyển xuống đây, do Đông Bắc Phương Thiên Tôn () hóa thành, sống ở Củ Luân Cung (), chịu trách nhiệm trông coi Khiếu Hoán Địa Ngục (Sanskrit: Raurava-naraka, , Địa Ngục la hét) và 16 Địa Ngục nhỏ khác; ngày sinh của ông là mồng 8 tháng giêng âm lịch. (6) Biện Thành Vương (, Biàn-chéng, hay Biện Thành Vương Tất []), còn gọi là Bảo Túc Chiêu Thành Chơn Quân (), cai quản ngôi điện thứ sáu, do Đông Nam Phương Thiên Tôn () hóa thành, sống ở Minh Thần Cung (), chịu trách nhiệm trông coi Đại Khiếu Hoán Địa Ngục (Sanskrit: Mahāraurava-naraka, , Địa Ngục la hét lớn) và Uổng Tử Thành (, thành chết oan uổng) cũng như 16 Địa Ngục nhỏ khác như Thường Quỵ Thiết Sa (), Thỉ Nê Tẩm Thân (), Ma Tồi Lưu Huyết (), Kiềm Chủy (), Cát Thận Thử Giảo (), Cức Cương Hoàng Toản (), Đối Đảo Nhục Tương (漿), Liệt Bì Kỵ Lôi (), Hàm Hỏa Bế Hầu (), Tang Hỏa Hồng (), Phẩn Ô (), Ngưu Điêu Mã Táo (), Phi Khiếu (), Đầu Thoát Xác (), Yêu Trảm (), Bác Bì Tuyên Thảo (). Những ai đã từng chửi mắng trời và hướng về phương Bắc mà tiểu tiện sẽ bị đọa xuống nơi này; ngày sinh của ông là mồng 8 tháng 3 âm lịch. (7) Thái Sơn Vương (, Tài-shān, hay Thái Sơn Vương Đổng []), còn gọi là Thái Sơn Huyền Diệu Chơn Quân (), cai quản ngôi điện thứ bảy, do Tây Nam Phương Thiên Tôn (西) hóa thành, sống ở Thần Hoa Cung (), chịu trách nhiệm trông coi Nhiệt Não Địa Ngục (Sanskrit: Tapana-naraka, , Địa Ngục đau khổ vì nóng) và 16 Địa Ngục nhỏ khác như Tuất Tự Thôn (), Liệt Hung (), Địch Thối Hỏa Bức (), Quyền Kháng Phát (), Khuyển Giảo Hĩnh Cốt (), Úc Thống Khốc Cẩu (), Tắc Đảnh Khai Ngạch (), Đảnh Thạch Tồn Thân (), Đoan Bảo Thượng Hạ Trác Giảo (), Vụ Bì Trư Tha (), Điếu Giáp Túc (), Bạt Thiệt Xuyên Tai (穿), Trừu Tràng (), Loa Đạp Miêu Tước (), Lạc Thủ Chỉ (), Du Phủ Cổn Phanh (). Những ai chế thuốc từ xương người chết và xa lánh người thân sẽ bị đọa xuống nơi này; ngày sinh của ông là 27 tháng 3 âm lịch. (8) Đô Thị Vương (, Dōu-shì, hay Đô Chủ Vương Hoàng []), còn gọi là Phi Ma Diễn Hóa Chơn Quân (), cai quản ngôi điện thứ tám, do Thượng Phương Thiên Tôn () hóa thành, sống ở Bích Chơn Cung (), chịu trách nhiệm trông coi Đại Nhiệt Não Địa Ngục (Sanskrit: Mahātapana-naraka, , Địa Ngục đau khổ vì nóng lớn) và 16 Địa Ngục nhỏ như Xa Băng (), Muộn Oa (), Toái Quả (), Khổng Tiểu (), Tiễn Chu (), Thường Thanh (), Đoạn Chi (), Chích Tủy (), Ba Tràng (), Phần (), Khai Sanh (), Quả Hung (), Phá Đảnh Khiêu Xỉ (), Cát (), Cương Xoa (). Ngày sinh của ông là mồng 1 tháng 4 âm lịch. (9) Bình Đẳng Vương (, Píng-dĕng, hay Đối Đẳng Vương Lục []), còn gọi là Vô Thượng Chánh Độ Chơn Quân (), cai quản ngôi điện thứ chín, do Tây Bắc Phương Thiên Tôn (西) hóa thành, sống ở Thất Phi Cung (), chịu trách nhiệm trông coi A Tỳ Địa Ngục (Sanskrit: Avīci-naraka, , tức Địa Ngục Vô Gián) và 16 Địa Ngục nhỏ khác như Sao Cốt Chước Thân (), Trừu Cân Lôi Cốt (), Nha Thực Tâm Can (), Cẩu Thực Tràng Phế (), Thân Tiễn Nhiệt Du (), Não Cô Bạt Thiệt Bạt Xỉ (), Thủ Não Điền (), Chưng Đầu Quát Não (), Dương Súc Thành Diêm (), Mộc Giáp Đảnh (), Ma Tâm (), Phí Thang Lâm Thân (), Hoàng Phong (), Hiết Câu (), Nghĩ Chú Ngao Đam (), Tử Xích Độc Xà Toản (). Ngày sinh của ông là mồng 8 tháng 4 âm lịch. (10) Chuyển Luân Vương (, Zhuàn-lún, hay Chuyển Luân Vương Tiết []), còn gọi là Ngũ Linh Uy Đức Chơn Quân (), cai quản ngôi điện thứ mười, do Hạ Phương Thiên Tôn () hóa thành, sống ở Túc Anh Cung (); ngày sinh của ông là 17 tháng 4 âm lịch. Ông chuyên trông coi các hồn quỷ được áp giải đến từ các điện khác, Phân Biệt, Quyết Định tôi phước nặng nhẹ của Tội Nhân, phân phát đi khắc các bộ châu, tìm đất và loại để cho vong hồn đầu thai. Ông còn có nhiệm vụ xem xét việc Thiện Ác của Tội Nhân để thông tri cho cấp trên, thẩm Định Thọ mạng ngắn dài cũng như tội phước thay đổi của Tội Nhân. Quá trình khảo tra rất nghiêm mật, cuối cùng mới cho Tội Nhân cầu vàng, cầu ngọc, cầu đá, cầu gỗ hay Cầu Nại Hà (, Nại Hà Kiều) và tống lên cho đầu thai vào 6 đường. Nếu như ở trên đời làm các việc thiện, khi sanh ra sẽ được trời người kính ngưỡng; sau khi chết đi cũng được Quỷ Thần Cung Kính; lúc ấy tự thân Chuyển Luân Vương cũng thân hành dẫn các sứ thần đến nghinh đón. Cho nên dân gian có câu rằng: “Tích thiện chi gia hữu Dư Khánh, tích Bất Thiện chi gia Hữu Dư ương (, Nhà tích lũy việc thiện thì có nhiều điều tốt đẹp, nhà không tích lũy việc thiện thì có nhiều tai ương).” Từ cuối thời nhà Đường trở đi, Tín Ngưỡng Thập Điện Diêm Vương trở nên thịnh hành. Thông thường, trong Miếu Thành Hoàng ở các địa phương có thiết lập Diêm Vương Điện (殿) để thờ Thập Điện Diêm Vương. Tại các tự viện Phật Giáo, hai bên phải trái của bàn thờ Địa Tạng Bồ Tát cũng có thờ Thập Điện Diêm Vương. Tín Ngưỡng Thập Điện Diêm Vương cũng được du nhập vào Việt Nam và vẫn còn lưu hành cho đến ngày hôm nay. Như trong các lòng văn sớ dâng cúng cầu siêu, thường có đề cập đến Minh Vương (, tức Diêm Vương), Diêm Ma Thập Điện như: “Tư lâm Đại Tường chi trai tuần, chánh trị khôn phủ đệ thập điện, Chuyển Luân Minh Vương án tiền trình quá (殿, Nay gặp lúc tuần chay dịp Đại Tường, đúng vào điện thứ mười, xin trình trước án Chuyển Luân Minh Vương)”, hay “Cung phụng: Diện Nhiên Đại Sĩ, uy quang khắc đáo ư kim tiêu; Địa Tạng từ tôn, Thần Lực đại chương ư thử dạ; Diêm Ma Thập Điện, chiếu khai Thập Bát Địa Ngục chi môn; Tả Hữu Phán Quan, thiêu tận ức kiếp Luân Hồi chi tịch; tỷ Lục Đạo Tứ Sanh chi vi mạng, Khô Mộc phùng xuân; sử Cửu Huyền Thất Tổ chi sảng linh, đồng đăng Giác Ngạn (殿使, Cúi xin: Diện Nhiên Đại Sĩ, ánh sáng oai lực đến đêm nay; Địa Tạng từ bi, Thần Lực hiển bày vào tối này. Diêm Ma Mười Điện, mở Mười Tám Địa Ngục cửa tung; Phán Quan phải trái, đốt sạch hồ sơ Luân Hồi muôn kiếp; cho mạng nhỏ của Bốn Loài Sáu Đường, cây khô gặp xuân; khiến hương linh của Cửu Huyền Thất Tổ, cùng lên bờ giác)”, v.v.