Cửu Diệu

《九曜》 jiǔ yào

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: Navagrahā: 9 loại thiên thể chiếu sáng rất quan trọng trong Hiện Tượng thiên văn, còn gọi là Cửu Chấp (), tùy theo ngày giờ mà không xa rời nhau, có nghĩa nắm chặt nhau (chấp trì). Nghi Quỹ trọng yếu của Cửu Diệu được thuyết trong Túc Diệu Kinh (宿, 2 quyển, Bất Không [] dịch, Taishō 21, 1299), Thất Diệu Nhương Tai Quyết (, Đường Kim Câu Tra [] soạn, Taishō 21, 1308), Thất Diệu Tinh Thần Biệt Hành Pháp (, Nhất Hành [] soạn, Taishō 21, 1309), Phạm Thiên Hỏa La Cửu Diệu (, Nhất Hành [] soạn, Taishō 21, 1311). Về đồ hình của Cửu DiệuCửu Diệu Tôn Tượng (), Cửu Diệu Bí Lịch (), v.v., phần lớn có các yếu tố thiên văn của Trung Quốc. Căn cứ vào lịch Ấn Độ bằng tiếng Phạn, Cửu Diệu được phân thành: (1) Nhật Diệu (Sanskrit: Āditya, ): còn gọi là Thái Dương (), Nhật Tinh (), Nhật Đại Diệu (); Hình Tượng bàn tay phải xòe ra cầm Nhật Luân (bánh xe mặt trời), tai trái kê lên đầu gối, mang thiên y và cỡi trên mình 3 con Bạch Mã (hay 5 con ngựa, trong Phạm Thiên Hỏa La Cửu Diệu có thể nhầm sao này với Nguyệt Diệu); (2) Nguyệt Diệu (Sanskrit: Soma, ): còn gọi là Nguyệt Thiên Diệu (), Nguyệt Tinh (), Mộ Thái Âm (), Thái Âm (); Hình Tượng bàn tai phải xòe ra cầm hình mặt trăng có con thỏ nằm trên, tay trái đưa lên ngang ngực và ngồi xếp bằng hai chân giao nhau; hoặc Hình Tượng trên đỉnh đầu có con chim bồ câu, mang y Yết Ma, hai tay bỏ trong tay áo và cầm Nguyệt Luân (vòng tròn mặt trăng), cỡi lên trên 5 cánh chim bồ câu; (3) Hỏa Diệu (Sanskrit: Aṅgāraka, ): còn gọi là Huỳnh Hoặc Tinh (, Sao Hỏa), Hỏa Tinh (), Hỏa Đại Diệu (), Phạt Tinh (); Hình Tượng tay phải đặt trên bắp đùi, tay trái cầm cái giáo dài mũi nhọn, chân phải hơi nhếch lên một chút, ngồi với tư thế hai bàn chân giao nhau; tuy nhiên trong đồ hình Bắc Đẩu Mạn Trà La () thân hình vị này có màu đỏ, tóc rực lửa dựng ngược, mang áo và mũ trời, chung quanh lửa cháy, thân đứng với 4 tay; (4) Thủy Diệu (Sanskrit: Budha, ): còn gọi là Thần Tinh (), Thủy Tinh (), Thần Tinh (), Trích Tinh (), Thủy Đại Diệu (); Hình Tượng chấp tay, ngồi xếp bằng hai bàn chân giao nhau; ngoài ra còn có Hình Tượng tay phải cầm bình, tay trái cầm xâu chuổi và ngồi bán già trên tòa hoa sen; (5) Mộc Diệu (Sanskrit: Bṛhaspati, ): còn gọi là Tuế Tinh (), Nhiếp Đề (), Đại Chủ (), Mộc Đại Diệu (), Mộc Tinh (); Hình Tượng ngón tay áp út và ngón giữa của bàn tay phải cong lên, ngón tay cái ấn xuống trên hai ngón kia, tai trái để lên bắp đùi và ngồi xếp bằng hai chân giao nhau; ngoài ra còn có Hình Tượng tay trái cầm cây gậy trên có hình bán nguyệt, hay hình ông lão đứng, đội mũ đầu heo, tay trái cầm cây gậy; (6) Kim Diệu (Sanskrit: Śukra, ): còn gọi là Thái Bạch Tinh (), Trường Canh (), Na Hiệt (), Kim Tinh (), Kim Đại Diệu (); Hình Tượng mang thiên y, tay phải để ngang ngực, tay trái đưa lên với 4 ngón tay bẻ gập lại và ngồi xếp bằng hai chân giao nhau; ngoài ra còn có Hình Tượng hai tay cầm bình và xâu chuỗi; hay hình người nữ đội con gà trên đầu và gãy đàn Tỳ Bà (); (7) Thổ Diệu (Sanskrit: Śanaiścara, ): còn gọi là Trấn Tinh (), Thổ Tinh (), Thổ Đại Diệu (); Hình Tượng ông lão khỏa thân đứng, mang quần da nai, tay phải cầm cây gậy tiên; hay hình Bồ Tát tay cầm bình; hoặc hình ông lão cỡi trâu, tay trái cầm Tích Trượng, có 2 Đồng Tử cầm giáo đứng hầu hai bên; (8) La Hầu (Sanskrit: Rāhu, ): còn gọi là Hoàng Phan Tinh (), Thực Thần (), Thái Dương Thủ (); Hình Tượng ẩn trong mây với 2 bàn tay hai bên khuôn mặt giận dữ; bên cạnh đó còn có Hình Tượng giận dự với 3 mặt và tóc rực lửa, trên mỗi đỉnh đầu có đầu rắn và từ ngực trở xuống ẩn trong mây; (9) Kế Đô (Sanskrit: Ketu, ): còn gọi là Tuệ Tinh (), Báo Vĩ Tinh (), Kỳ Tinh (), Thực Thần Vĩ (), Thái Âm Thủ (), Nguyệt Bộc Lực (); Hình Tượng nữa thân phải lộ ra khỏi mây, tay phải để ngang ngực, tay trái đưa lên cao; hay hình có khuôn mặt giận dữ, khỏa thể một nữa ẩn trong đám mây đen; hoặc hình tướng giận dữ có 3 mặt, trên mỗi mặt có 3 con rắn, từ ngực trở xuống ẩn trong mây. Trong đồ hình Bắc Đẩu Mạn Trà La thân hình vị này có màu đỏ, 3 mặt và 4 tay, tóc dựng ngược, mang áo và mũ trời, chân trái duỗi ra và cỡi lên con rồng. Ngoài ra còn có Hình Tượng tay phải ẩn trong đầu rồng, cầm lỗ tai con thỏ, tay trái cầm cương rồng và tóc người). Trong Tân Đường Thư Lịch Chí () quyển 18 có ghi rằng vào năm thứ 6 (718) niên hiệu Khai Nguyên () đời vua Huyền Tông, Thái Sử Giám Cù Đàm Tất Đạt () vâng chiếu Phiên Dịch Lịch Cửu Diệu; nó cũng tương tự với loại lịch Thái Dương bằng tiếng Phạn. Nếu phối hợp Phương Vị, Nhật Diệu thuộc về phương Sửu Dần, Nguyệt Diệu thuộc phương Tuất Hợi, Hỏa Diệu thuộc phương Nam, Thủy Diệu là phương Bắc, Mộc Diệu ở phương Đông, Kim Diệu ở phương Tây, Thổ Diệu ở trung ương, La Hầu ở phương Thìn Tỵ (Đông Bắc), Kế Đô thuộc phương Mùi Thân (Tây Nam). Hơn nữa, theo Thuyết Bản Địa của Nhật Bản, Nhật Diệu là Quan Âm (, hay Hư Không Tạng []), Nguyệt DiệuThế Chí (, hay Thiên Thủ Quan Âm []), Hỏa Diệu là Bảo Sanh Phật (, hay A Rô Ca Quan Âm []), Thủy Diệu là Vi Diệu Trang Nghiêm Thân Phật (, hay Thủy Diện Quan Âm []), Mộc DiệuDược Sư Phật (, hay Mã Đầu Quan Âm []), Kim Diệu là A Di Đà Phật (, hay Bất Không Quyên Sách []), Thổ Diệu là Tỳ Lô Giá Na Phật (, hay Thập Nhất Diện Quan Âm []), La Hầu là Tỳ Bà Thi Phật (), Kế Đô là Bất Không Quyên Sách (). Người xưa thường phối hợp Cửu Diệu này với tuổi tác của con người để phán đoán tốt xấu.