Cát Tạng

《吉藏》 jí cáng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Kichizō, 549-623: vị tăng sống dưới thời nhà Tùy, người vùng Kim Lăng (), họ An (), tên Thế (), tổ tiên ông người An Tức (, dân tộc Hồ), sau dời đến Kim Lăng, cho nên ông được gọi là An Cát Tạng (), Hồ Cát Tạng (). Năm lên 3, 4 tuổi, ông theo cha đến yết kiến Chơn Đế (), nhân đó Chơn Đế đặt cho ông tên là Cát Tạng. Sau cha ông Xuất Gia, có Pháp Danh Đạo Lượng (). Ông thường theo cha đến Hưng Hoàng Tự () nghe Pháp Lãng () giảng thuyết về Tam Luận (), và năm lên 7 tuổi (có thuyết cho là 13 tuổi) ông theo vị này xuống tóc Xuất Gia. Pháp Lãng là người truyền thừa giáo học Tam Luận của hệ thống Cưu Ma La Thập (), cho nên ông thường học tập Trung Luận (), Bách Luận ()Thập Nhị Môn Luận (). Năm 19 tuổi, lần đầu tiên ông đăng đàn Thuyết Pháp, rồi năm 21 tuổi thọ Cụ Túc Giới, danh tiếng ngày càng cao. Vào năm đầu (581) niên hiệu Khai Hoàng () nhà Tùy, lúc ông 32 tuổi, Pháp Lãng qua đời, ông bèn vân du về phía Đông đến Gia Tường Tự () thuộc vùng Cối Kê (), Triết Giang (), lưu lại nơi đây chuyên tâm thuyết giảng và trước tác, người đến học đạo lên đến hơn ngàn người. Bên cạnh đó, ông còn viết chú sớ cho các thư tịch Tam Luận, phần nhiều đều được hoàn thành ở chùa này, cho nên hậu thế gọi ông là Gia Tường Đại Sư (). Ngoài việc hình thành hệ thống Tam Luận Tông, ông còn tinh thông cả các kinh Đại Thừa Như Pháp Hoa, Niết Bàn, v.v. Vào tháng 8 năm thứ 17 niên hiệu Khai Hoàng (), ông gởi thư mời Thiên Thai Trí Khải Đại Sư () đến tuyên giảng giáo nghĩa Pháp Hoa. Vào năm thứ 2 (606, có thuyết cho là năm thứ 2 [602] niên hiệu Nhân Thọ [], hay năm cuối [616] niên hiệu Đại Nghiệp []) niên hiệu Đại Nghiệp (), vua Dương Đế () hạ chiếu mở 4 Đạo Tràng, ông phụng sắc chỉ đến trú tại Huệ Nhật Đạo Tràng () ở Dương Châu () vùng Giang Tô (). Chính bộ Tam Luận Huyền Nghĩa () tương truyền do ông trước tác được hoàn thành trong khoảng thời gian này. Sau đó, ông chuyển đến Nhật Nghiêm Tự () ở Trường An (), hoằng đạo vùng Trung Nguyên. Ngoài ra, ông còn đi khắp các nơi diễn giảng kinh để hoằng dương Tam Luận Tông, cho nên ông được xem như là vị tổ tái hưng của Tông Phái này. Ông đã từng biện luận với Tăng Sán (), vị luận sư nổi tiếng đương thời, ứng đáp trôi chảy, cả hai bên trãi qua hơn 40 lần đối đáp như vậy, cuối cùng ông thắng cuộc. Từ năm đầu (605) niên hiệu Đại Nghiệp () cho đến cuối đời nhà Tùy (617), ông sao chép 2.000 bộ Kinh Pháp Hoa, tạo 25 tôn tượng, chí thành Lễ Sám. Vào năm đầu (618) niên hiệu Võ Đức () nhà Đường, tại Trường An vua Cao Tổ tuyển chọn ra 10 vị Cao Tăng đức độ để thống lãnh Tăng Chúng, ông được chọn vào trong số đó. Thêm vào đó, đáp ứng lời thỉnh cầu của 2 chùa Ứng Thật () và Định Thủy (), ông đến làm trú trì, nhưng sau dời về Diên Hưng Tự (). Đến tháng 5 năm thứ 6 niên hiệu Võ Đức (), trước khi mạng chung, ông tắm rửa sạch sẽ, đốt hương Niệm Phật, viết cuốn Tử Bất Bố Luận (, Luận Không Sợ Chết) xong mới An Nhiên Thị Tịch, hưởng thọ 75 tuổi. Bình sanh ông giảng thuyết Tam Luận () hơn 100 lần, Pháp Hoa Kinh () hơn 300 lần, Đại Phẩm Kinh (), Hoa Nghiêm Kinh (), Duy Ma Kinh (), Đại Trí Độ Luận (), v.v., mỗi loại khoảng 10 lần. Môn hạ của ông có những nhân vật kiệt xuất như Huệ Lãng (), Huệ Quán (), Trí Khải (), v.v. Trước tác của ông cũng rất phong phú như Trung Quán Luận Sớ (), Thập Nhị Môn Luận Sớ (), Bách Luận Sớ (), Tam Luận Huyền Nghĩa (), Đại Thừa Huyền Luận (), Pháp Hoa Huyền Luận (), Pháp Hoa Nghĩa Sớ (), v.v. Ngoài ra, ông còn có một số sách chú thích cũng như lược luận của các Kinh Điển Đại Thừa Như Pháp Hoa, Niết Bàn, Thắng Man, Đại Phẩm, Kim Quang Minh, Duy Ma, Nhân Vương, Vô Lượng Thọ, v.v.