Bản Nguyện Lực

《本願力》 běn yuàn lì

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Chỉ lực dụng của Bản Nguyện. Nói tắt là Nguyện Lực. Cũng gọi là Túc Nguyện Lực, Đại Nguyện Nghiệp Lực. Tức là cái sức thề nguyền mà chư Phật và Bồ Tát ở các kiếp Quá Khứ, trước khi Thành Phật, đã Phát Khởi lúc còn ở Nhân Vị, và đã Thành Tựu được Thệ Nguyện ấy ở quả vị. Theo Bồ Tát Thế Thân nói trong luận Vãng sinh, thì sức Bản Nguyện của Phật, có khả năng nhanh chóng Thành Tựu đầy đủ vô lượng Công Đức Thù Thắng như bể báu lớn. Lại trong Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ quyển 1, đại sư Thiện Đạo đời Đường nói, hết thảy Phàm Phu Thiện Ác đều nhờ sức nguyện lớn của Phật A di đà làm duyên Tăng Thượng mà được vãng sinh Tịnh Độ. Hoặc chia Bản Nguyện và lực làm hai, Bản Nguyện chỉ lời thề nguyền ở Nhân Vị, lực chỉ Thần Lực của quả thượng. Như sư Đàm Loan, trong Vãng Sinh Luận chú, khi giải thích về Quán Phật Bản Nguyện Lực, đã nói (Đại 40, 840 thượng): Nhờ vào bốn mươi tám Bản Nguyện của Bồ Tát Pháp Tạng mà thành Thần Lực của A di đà Như Lai ngày nay, nguyện để thành lực, lực để tựu nguyện, nguyện không luống phí, lực chẳng hư dối, lực nguyện hợp nhau, rốt ráo chẳng sai, vì thế nói là Thành Tựu. [X. kinh Quán vô lượng thọ; luận Câu xá Q. 9.]. (xt. Bản Nguyện).