Ba La Nại

《波羅奈》 bō luó nài

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: Vārāṇasī, Vāraṇasī, Varāṇasī, Varaṇasī, Pāli: Bārāṇasī: tên của một vương quốc cổ ngày xưa của Ấn Độ còn gọi là Ba La Nại Tư Quốc (), Ba La Nại Quốc (), Ba La Nại Tả Quốc (); xưa kia gọi là Già Thi Quốc (Sanskrit: Kāśī, ), hiện tại là Benares. Theo Đại Đường Tây Vức Ký (西) quyển 7, vương quốc này có thành quách kéo dài đến tận sông Tây Khắc Già (西), dài 18, 19 dặm, rộng 5-6 dặm. Dân cư trong thành đông đúc, tính người hiền lương, phần lớn tin vào Ngoại Đạo, ít người kính trọng Phật Pháp. Tăng Chúng phần lớn học pháp Chánh Lượng Bộ của Tiểu Thừa. Về phía đông bắc của thành có dòng sông Varaṇā; phía tây sông có tháp A Dục Vương (Sanskrit: Aśoka, Pāli: Asoka ); phía đông bắc sông khoảng 10 dặm có di tích cũ nơi Bồ Tát Di Lặc (Sanskrit: Maitreya, Pāli: Metteyya ), Bồ Tát Hộ Minh () từng thọ ký. Bên cạnh đó, phía tây bắc thành có vườn Lộc Uyển (Sanskrit: Mṛgadāva, Pāli: Migadāya 鹿), nơi xưa kia sau khi thành đạo, đức Phật lần đầu tiên giáo hóa cho 5 vị Tỳ Kheo. Từ đó về sau, Ngài thường đến thành này hóa độ Chúng SanhBa La Nại trở thành một trong 6 trung tâm Thuyết Pháp lớn đương thời. Hiện tại trong thành có cả ngàn ngôi đền thờ Ấn Độ Giáo. Nơi này xưa kia rất thịnh hành về học thuật, cùng với vùng Takṣasilā là hai trung tâm của Bà La Môn Giáo học. Khi Cao Tăng Huyền Trang (, 602-664) đến địa phương này, Phái Thấp Bà (Sanskrit: Śiva, ) rất hưng thịnh. Sau khi Tín Đồ Hồi Giáo xâm nhập vào năm 1194, Phật Giáo tiến đến tuyệt tích. Hiện tại nơi đây không chỉ là thánh địa của Ấn Độ Giáo, mà còn là thánh địa của Phật Giáo và Kỳ Na Giáo (, Jainism).