Át Già

《閼伽》 è gā

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Phạm: Argha, Pāli: Aggha. Cũng gọi A-già, Át-ca, Át-la-già. Dịch ý: Công Đức, nước Công Đức, nước. Còn gọi nước Át Già, nước thơm Át Già, nước hoa thơm. Chỉ cho nước Công Đức, nước thơm đặt cúng trước đức Phật, hoặc cái bình đựng nước Công Đức. Đại Nhật Kinh Sớ quyển 10 nói rằng nước Át Già tức là nước hoa thơm. Đại Nhật Kinh Cúng Cường Thứ Đệ Pháp Sớ chép: dâng cúng nước thơm Át Già sẽ chứng được Bình Đẳng Tính Trí, ở vào ngôi vua Pháp của ba cõi.Tiếng phạm argha là từ gốc tiếng arh (có giá trị) mà ra, ý nói là vật có giá trị, về sau chuyển sang ý là vật dâng cúng thần linh hoặc người cao quí, rồi lại mở rộng ra với ý là nước cúng dường. Lại theo Tuệ Lâm Nghĩa quyển 10 thì Át Già là đồ đựng nước thơm. Hi Lân Âm Nghĩa quyển 5 thì bảo Át Già là gọi chung những cái chén đựng nước thơm. Chú thích trong Phật Tổ Thống Kỉ quyển 43 thì cho rằng phàm là đồ cúng dường đều gọi là Át Già, hoặc còn chỉ đồ đựng nước tắm. Những nghĩa ghi trên đây cho Át Già là đồ cúng dường đều là kết quả của sự chuyển dịch sai lầm. Ngoài ra, Kinh Nhiếp Chân Thực quyển hạ dịch chữ argha là tròn đầy, không nhơ đục, hoặc xa hơn nữa là đạo Bồ Đề. Từ xưa, ở Ấn Độ, khi có yến tiệc, trước hết phải chuẩn bị nước cho khách rửa ráy. Tập tục này đặc biệt được Mật giáo dùng làm một trong sáu thứ cúng dường. Kinh Đại Nhật Phẩm Cụ Duyên nói, Át Già, hương hoa, tràng hoa, hương đốt, thức ăn, đèn sáng, là sáu thứ cúng dường. Kim Cương đính kinh nhất tự đính luân vương Du Già Nhất Thiết thời xứ Niệm Tụng Thành Phật nghi quĩ đem phối sáu thứ cúng dường với sáu đường: Át Già được phối với đường Súc Sinh, hoặc đem Át Già phối với Bố Thí ba-la-mật trong sáu ba-la-mật. Theo phép tu của Mật giáo, Át Già cúng dường phải được thực hiện hai lần:
1. Tiền cúng dường: trước khi tu quán Nhập Ngã Ngã Nhập (Người vào Ta Ta vào Người) Hoặc Trước Chính Niệm tụng, cúng dường Át Già ở bên phải hỏa xá (nhà lửa: một thứ lò hương).
2. Hậu cúng dường: sau khi gia trì ở nơi Bản Tôn hoặc Tán Niệm Tụng, cúng dường Át Già ở bên trái hỏa xá. Lần cúng dường trước là lần cúng dường nước cho Bản Tôn từ Bản Địa mới đến, cũng như đem nước cho khách rửa chân mới từ phương xa đến. Lần cúng dường sau cũng giống như đưa nước cho khách súc miệng sau bữa yến tiệc đã xong. Về đồ vật Át Già có nhiều chủng loại, như:
1. Thùng Át Già: đồ chứa hình cái thùng từ đó múc lấy Át Già, về chất liệu và hình dáng cũng như kích thước của thùng đều không nhất định, thường thì nó được làm bằng gỗ hoặc kim khí, đường kính khoảng từ 15 đến 30 phân Tây. Khi truyền phép Quán đính, Kim Cương Giới và Thai Tạng Giới mỗi giới dùng một thùng riêng.
2. Giếng Át Già: giếng chuyên chứa Át Già dùng để cúng dường. Thùng Át Già đựng Át Già múc từ giếng Át Già lên. Át Già lúc nào cũng phải được giữ cho trong sạch, không được dùng nước tạp khác, cho nên các chùa viện lớn phần nhiều đào giếng Át Già riêng.
3. Đồ đựng Át Già: chiếc bát nhỏ, một trong sáu thứ đồ đựng. Vốn chỉ cái bát đựng Át Già cúng dường Phật, sau được mở rộng mà gọi chung các đồ đựng cúng dường. Trong Mật giáo, khi tu pháp, chiếc bát này được đặt ở giữa đàn, ở hai bên hỏa xá mỗi bên để ba cái. Nguyên gốc là một bộ bốn cái, nhưng sau biến thành một bộ sáu cái.
4. Gác Át Già: là giá để thùng và các đồ đựng Át Già khác, cũng dùng để để hoa. Gác Át Già thường được làm ở bên cạnh giếng Át Già, nóc gác hơi dốc để dễ thoát nước khi trời mưa.
5. Chén Át Già: đồ đựng nước cúng dường Phật hình cái chén. Có thứ bằng kim khí, có thứ bằng gốm. Nước lấy từ thùng Át Già để cúng dường không được rót ngay vào đồ đựng Át Già, mà phải rót vào chén Át Già trước, sau đó mới lại ruôn sang đồ Át Già. Để tiện cho việc thay đổi Át Già trong khi tu pháp, được rót nước vào chén Át Già trước và để ở gần chỗ Hành Giả ngồi. [X. Kinh Đại Nhật Q. 3. Phẩm Thế Gian Thành Tựu, Q. 7. Phẩm Chân Ngôn Sự Nghiệp; Kinh Tô Tất Địa Yết La Q. hạ Phẩm Phụng Thỉnh; Thành Tựu Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Vương Du Già Quán Trí Nghi Quĩ; Đại Nhật Kinh Sớ Q. 8.; Phật Tổ Thống Kỉ Q. 43.; Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập Q. 7.; Hiển Mật Uy Nghi Tiện Lãm Tục Biên Q.hạ]. (xt. Át Già Khí).