A Tự Ngũ Chuyển

《阿字五轉》 ā zì wǔ zhuǎn

Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển

Định nghĩa thuật ngữ

Là từ được Mật giáo dùng để biểu thị năm giai vị mà tâm Bồ Đề, y theo đó lần lượt chuyển lên. Gọi tắt là Ngũ Chuyển. Chữ (a) là một trong mười hai nguyên âm của mẫu tự Tất Đàm, trong Mật giáo, chiếu theo năm lần chuyển hóa trên âm vận Tất Đàm mà phối với năm đức là phát tâm, tu hành, chứng Bồ Đề, nhập Niết BànPhương Tiện cứu kính (Phương Tiện), dùng để biểu thị tâm Bồ Đề của người tu Mật giáo, dần dần theo thứ tự chuyển lên các giai đoạn tu hành cao hơn, gọi là A Tự Ngũ Chuyển. Đại Nhật Kinh Sớ quyển 14 (Đại 39, 722 hạ, 723 trung) nói: A đây có năm thứ: a,à (dài),aô,a#,àh (dài). (...) Một chữ A sinh bốn chữ, tức là tâm Bồ Đề(dài) là hành, Ám là thành Bồ Đề, Á là đại tịch Niết Bàn, Á (dài)Phương Tiện. Kinh Đại nhật quyển 1 phẩm Trụ tâm, lấy chữ A làm thể của tâm Bồ Đề sẵn có và vốn thanh tịnh, đồng thời, dùng nghĩa này phối hợp với sự chuyển hóa của âm đọc chữ A, và đem thứ tự mở tỏ tâm Bồ Đề của người tu hành Mật giáo chia làm năm giai đoạn. Tức là:
1. A (âm ngắn), biểu thị sự phát tâm Bồ Đề, gọi là phát tâm. Trong đó lại chia làm hai thứ: a.Bản Hữu bồ-đề tâm, nghĩa là trong tâm của hết thảy Chúng Sinh đều vốn có đủ trí tuệ Bản Giác mầu nhiệm, xưa nay vốn tự nhiên như thế. b.Tu sinh Bồ Đề Tâm, nghĩa là cái tâm do sức Huân Tập của Bản Giác mà trở về gốc cũ. 2.À (âm dài), biểu thị cái diệu hạnh tu trì Tam Mật Lục Độ, gọi là tu hành.
3. Am, biểu thị sự tu hành tròn đầy, đạt được Quả Đức tự chứng, gọi là chứng Bồ Đề.
4. Á (âm ngắn), biểu thị nhờ Quả Đức tròn đầy mà Chứng NhậpBất Sinh Bất Diệt, gọi là nhập Niết Bàn.
5. Á (âm dài), biểu thị muôn đức đã đầy đủ sự tự chứng và hóa tha, Tùy Duyên Tế Độ, đạt đến vị ba Bình Đẳng, gọi là Phương Tiện cứu kính. Năm chuyển trên đây, có thể nói, đã bao hàm đại ý của cả bộ kinh Đại nhật, vì đại ý của bộ kinh Đại nhật không ngoài ba tiếng Nhân, Căn, Cứu kính. Trước nay phần nhiều đem ba tiếng phối hợp với năm chuyển, tức phát tâm là Nhân, ba mục giữa là Căn, Phương Tiện sau cùng là Cứu kính, nghĩa này được nhất trí. Ngoài ra, có nghĩa cho phát tâm là Nhân, tu hành là Căn, còn ba mục kia là tâm vào quả Phật, đây là nghĩa thuộc Phật Quả cứu kính, đây cũng còn có thuyết khác. Lại trong ba tiếng, nếu đứng về phương diện ngôi vị phát tâm là Nhân mà nói, thì có hai nghĩa Đông Nhân Phát Tâm và Trung nhân phát tâm, xưa nay cho thuyết Đông Nhân Phát Tâm là do ngài Thiện Vô Úy truyền, thuyết Trung nhân phát tâm là do ngài Bất Không truyền. Đông Nhân Phát Tâm tức đem đông phương phối với phát tâm ở trên, nam phương phối với tu hành ở trên, tây phương phối với chứng Bồ Đề ở trên, bắc phương phối với nhập Niết Bàn ở trên, trung ương phối với cứu kính ở trên; nói về phương hướng tu hành thì đây là xu hướng từ nhân hướng tới quả, thuộc về thuyết Thủy Giác Thượng Chuyển môn (Pháp Môn chuyển từ Thủy Giác lên). Trung nhân phát tâm thì lấy chữ A (âm ngắn) ở chính giữa phối với phát tâm, chữ A (âm dài) ở phương đông phối với tu hành, chữ Am ở phương nam phối với chứng Bồ Đề, chữ Á (âm ngắn) ở phương tây phối với nhập Niết Bàn, chữ Á(âm dài) ở phương bắc phối với Phương Tiện; đây là xu hướng từ quả tới nhân, thuộc thuyết Bản Giác Hạ Chuyển môn (Pháp Môn chuyển từ Bản Giác xuống). Sự sai khác giữa hai thuyết, được đồ biểu như sau: Đông Nhân Phát Tâm - Trung nhân phát tâm (a) Phát tâm - Đông A súc - Trung Đại nhật (à) Tu hành - Nam Bảo sinh - Đông A súc (aô) Bồ Đề - Tây Di đà - Nam Bảo sinh (a#) Niết Bàn - Bắc Thích Ca - Tây Di đà (à#) Phương Tiện cứu kính - Trung Đại nhật - Bắc Thích Ca (hoặc Bất Không Thành Tựu) Thuyết Đông Nhân Phát Tâm của Thiện Vô Úy lấy nghĩa Thủy Giác tu sinh trong kinh Đại nhật làm căn bản, còn thuyết Trung nhân phát tâm của Bất Không thì lấy nghĩa Bản Giác Bản Hữu trong kinh Kim Cương đính làm y cứ. Song, Căn Cơ có đốn (phát tâm liền được), tiệm (tu Hành Chứng từng phần một) khác nhau, cho nên, trong thuyết của Thiện Vô Úy cũng có Nghĩa Trung nhân, mà thuyết của Bất Không cũng chẳng phải chỉ hàm nghĩa Hạ Chuyển môn, mà lấy sự hiển bày cái ý chỉ phát tâm liền được làm nghĩa chính. [X. kinh Đại nhật Q. 1. phẩm Cụ duyên; kinh Đại nhật sớ Q. 20.; Tú diệu quĩ (Bất Không); Bí Tạng Kí tư bản sao Q. 4.].