A Súc Phật

《阿閦佛》 ā chù fú

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: Akṣhobhya-buddha, Tạng Hán: Saṅs-rgyas mi-ḥkhrugs-pa: gọi tắt là A Súc () còn gọi là A Súc Tì Phật (), A Sô Tì Da Phật (), Ác Khất Sô Tỳ Dã Phật (); ý dịch là Bất Động Phật (), Vô Động Phật (), hay Vô Nộ Phật (), Vô Sân Nhuế Phật (); là tên gọi của một trong 5 vị Phật ở 5 phương khác nhau; vị này thường ngự ở phương Đông. Theo Phẩm Phát Ý Thọ Tuệ () và Thiện Khoái () của A Súc Phật Quốc Kinh (, Taishō Vol. 11, No. 313) quyển Thượng, vào thời Quá Khứ cách hơn Phật Quốc Độ về phương Đông có Thế Giới tên gọi là A Tỷ La Đề (Sanskrit: Abhirati, ), đức Đại Mục Như Lai () xuất hiện trong Thế Giới ấy, vì các Bồ Tát thuyết về hạnh Lục Độ Vô Cực (). Khi ấy có một vị Bồ Tát nhân khi nghe pháp bèn phát tâm vô thượng chánh chân; đức Đại Mục Như Lai thấy vậy rất hoan hỷ nên ban cho hiệu là A Súc. Bồ Tát A Súc Thành PhậtThế Giới A Tỷ La Đề, cho đến hiện tại vẫn còn đang Thuyết Pháp tại Quốc Độ của Ngài. Hơn nữa, lại căn cứ vào Phẩm Hóa Thành Dụ () của Pháp Hoa Kinh (Sanskrit: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, , Taishō Vol. 9, No. 262) cho hay rằng khi chưa Xuất Gia, đức Đại Thông Trí Thắng Phật () có 16 vương tử, về sau tất cả đều Xuất Gia làm Sa Di; trong đó người con thứ nhất tên Trí Tích (), tức là A Súc, Thành Phật tại nước Hoan Hỷ ở phương Đông. Bi Hoa Kinh (Sanskrit: Karuṇā-puṇḍarīka-sūtra, , Taishō Vol. 3, No. 157) quyển 4 có ghi rằng đức A Di Đà Phật (Sanskrit: Amitāyus, Amitābha, ) trong thời Quá Khứ khi làm vua Vô Tránh Niệm (), có cả ngàn người con, trong đó người con thứ 9 tên Mật Tô (), tức là A Súc, Thành Phật ở phương Đông, cõi nước tên là Diệu Lạc (). Mật Giáo xem A Súc Phật này là một trong 5 vị Phật của Kim Cang Giới (), tượng trưng cho Đại Viên Cảnh Trí (), hay Kim Cang Trí (). Ngài ngự ở trung ương chánh Đông Nguyệt Luân trong Ngũ Giải Thoát Luân (), phía trước là Kim Cang Tát Đỏa (), bên phải là Kim Cang Vương Bồ Tát (), bên trái là Kim Cang Ái Bồ Tát (), phía sau là Kim Cang Hỷ Bồ Tát (). Hình Tượng của Ngài màu vàng kim, tay trái bắt ấn để trên bắp vế, tay phải buông xuống chạm đất, nên được gọi là A Súc Xúc Địa ấn (). Mật Hiệu của Ngài là Bất Động Kim Cang (); Chủng Tử là hūṃ. Chơn ngôn là “án ác khất sô tỳ dã hồng ().” Thân Ngài màu xanh, như trong Phật Mẫu Khổng Tước Tôn Kinh Khoa Thức (, Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1479) có đoạn rằng: “Phụng Thỉnh Đông phương A Súc Phật, kỳ thân thanh sắc phóng Quang Minh, Thủ Ấn chấp trì Hàng Ma Chử, chúng đẳng Chí Tâm quy mạng lễ (, cung thỉnh Đông phương A Súc Phật, thân Ngài sắc xanh phóng hào quang, tay ấn cầm giữ Chày Hàng Ma, chúng con Chí Tâm Cung Kính lễ).” Trong Diệu Cát Tường Bình Đẳng Bí Mật Tối Thượng Quán Môn Đại Giáo Vương Kinh (, Taishō Vol. 20, No. 1192) quyển 4 lại dạy thêm rằng: “Cầu trường thọ thư A Súc Phật Chủng Trí tự (, nếu cầu sống lâu thì viết chữ Chủng Trí của A Súc Phật).” Trong Kim Cang Đảnh Du Già Tam Thập Thất Tôn Lễ (, Taishō Vol. 18, No. 879)Đảnh Lễ Danh Hiệu của Ngài: “Nam Mộ Kim Cang Kiên Cố Tự Tánh Thân A Súc Phật (, Kính Lễ Phật A Súc Thân Tự Tánh Kiên Cố Như Kim Cang).”