A Nan
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
s, Pāli: Ānanda: từ gọi tắt của âm dịch A Nan Đà (阿難陀) ý dịch là Khánh Hỷ (慶喜), Vô Nhiễm (無染), con trai của vương tộc Sĩ Cam Lộ Phạn (Sanskrit: Amṛtodana, 士甘露飯, còn gọi là Bạch Phạn Vương [白飯王]) thuộc dòng họ Thích Ca (Sanskrit: Śākya, Pāli: Sakya 釋迦), anh em với Đề Bà Đạt Đa (s, Pāli: Devadatta 提婆達多), anh em chú bác với đức Phật, là Thị Giả hầu cận Ngài trong một thời gian lâu dài. Ngày đức Thế Tôn thành đạo là ngày A Nan ra đời; Ngài giảng kinh xong 20 năm thì khi ấy A Nan mới Xuất Gia. Sau khi thành đạo, lần đầu Tiên Đức Thế Tôn trở về thành Ca Tỳ La Vệ (Sanskrit: Kapilavastu, Pāli: Kapilavatthu 迦毘羅衛), khi Ngài trú tại Vườn Xoài (Sanskrit: Āmrapāli-vana, Pāli: Ambapāli-vana 菴婆波梨園, tức Am Bà Ba Lợi Viên), Tôn giả A Nan đã cùng với các vương tử thuộc dòng họ Thích Ca và người thợ hớt tóc Ưu Ba Ly (s, Pāli: Upāli 優波離) xin Xuất Gia theo Phật. Từ đó trở đi, Tôn giả thường hầu hạ bên đức Thích Tôn, phần nhiều nghe được những lời dạy của Ngài, nên được xưng tụng là Đa Văn Đệ Nhất (多聞第一, nghe nhiều số một). Có thuyết cho rằng Tôn giả đã tu đắc pháp gọi là Tánh Giác Tự Tại Tam Muội (性覺自在三昧), có thể ở trong định thấu hiểu các pháp; cho nên khi Kết Tập Pháp Tạng thì A Nan được suy cử. Khi dưỡng mẫu của Phật là bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề (Sanskrit: Mahāprajāpatī Gautamī, Sanskrit: Mahāpajāpatī Gotamī 摩訶波闍波提) cầu xin Xuất Gia nhưng không được phép, chính Tôn giả đã đích thân xin Phật và sau khi được phép thì Tôn giả là người đã tận lực sáng Lập Giáo đoàn Tỳ Kheo Ni đầu tiên. Vào tháng thứ 2 sau khi Phật Diệt độ, khi cuộc Kết Tập lần đầu tiên được tiến hành tại Hang Thất Diệp (Sanskrit: Sapta-parṇa-guhā, 七葉窟) ngoài Thành Vương Xá (Sanskrit: Rājagṛha, Pāli: Rājagaha 王舍城), Tôn giả đã cùng tham dự với 499 vị Đệ Tử của đức Phật Chứng Quả A La Hán. Khi đức Phật Diệt độ, tương lai của giáo đoàn được phó thác lại cho Ma Ha Ca Diếp (Sanskrit: Mahākāśyapa, Pāli: Mahākassapa 摩訶迦葉), cho nên A Nan được Ca Diếp truyền trao giáo pháp cho và trở thành vị tổ thứ 2 của Thiền Tông Tây Thiên. Theo các tài liệu như Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Đà La Ni Kinh (救拔焰口餓鬼陀羅尼經, Taishō 1313), Cứu Diện Nhiên Ngạ Quỷ Đà La Ni Thần Chú Kinh (救面燃餓鬼陀羅尼神呪經, Taishō 1314), Du Già Tập Yếu Cứu A Nan Đà La Ni Diệm Khẩu Nghi Quỹ Kinh (瑜伽集要救阿難陀羅尼焰口儀軌經, Taishō 1318), Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Khởi Giáo A Nan Đà Duyên Do (瑜伽集要焰口施食起敎阿難陀緣由, Taishō 1319), có dẫn về nguồn gốc cúng Thí Thực Ngạ Quỷ, âm linh Cô Hồn. Câu chuyện kể rằng có một đêm nọ trong khi đang hành Thiền định Quán Chiếu những lời dạy của Đức Phật, vào canh ba tôn giả A Nan chợt nhìn thấy một con quỷ đói thật hung tợn tên là Diệm Khẩu (Sanskrit: Ulkā-mukha, 焰口) có thân hình gầy ốm, miệng rực cháy lửa và cổ họng của nó nhỏ như cây kim. Con quỷ ấy đến trước mặt tôn giả thưa rằng ba ngày sau mạng của tôn giả sẽ hết và sanh vào Thế Giới Ngạ Quỷ (ma đói). Nghe vậy, tôn giả A Nan vô cùng ngạc nhiên và lấy làm sợ hãi, bèn hỏi con quỷ kia xem có cách nào thoát khỏi tai họa ấy không. Con quỷ trả lởi rằng: “Vào sáng ngày mai nếu tôn giả có thể cúng dường thức ăn và nước uống cho trăm ngàn ức chúng Ngạ Quỷ nhiều như cát Sông Hằng, cho vô số đạo sĩ Bà La Môn, cho Chư Thiên và các vị thần cai quản việc làm của con người, cho quá cố các vong linh, dùng cái hộc của nước Ma Kiệt Đà (s, Pāli: Magadha 摩掲陀) để cúng dường cho họ 49 hộc thức ăn và nước uống, và vì họ mà cúng dường cho Tam Bảo, như vậy tôn giả sẽ được tăng thêm tuổi thọ, cùng lúc đó sẽ làm cho chúng tôi thoát khỏi cảnh khổ đau của Ngạ Quỷ và sanh lên cõi trời.” Trên cơ sở của nguồn gốc này, nghi lễ Cúng Thí Thực cho âm linh Cô Hồn Ngạ Quỷ ra đời cho đến ngày nay.