A Đề Sa
Điển cứ gốc: Phật Quang Đại Từ Điển
Định nghĩa thuật ngữ
(982-1054?) Phạm: Atiza, tên Tây tạng: Phul-byu. Cũng gọi A-để-giáp, A-để-sa, A-hông-sa. Tổ khai sáng phái Ca đương (Phạm: Bka#- gdam-pa) của Phật giáo Tây Tạng, người nước Tát Hạ (Zahora) Đông Ấn Độ, con thứ của vua Thiện Tường (Tạng:Dge-a#i-dpa), vốn tên là Nguyệt Tạng. Hai mươi chín tuổi, ngài theo Luật Sư Giới Hộ (Phạm: Zìlarakwita) Xuất Gia. Sau khi Xuất Gia, ngài học rộng các Kinh Điển của Đại Chúng Bộ, Thượng Tọa Bộ, Chính Lượng Bộ, Nhất Thiết Hữu Bộ và Mật giáo. Pháp Danh ngài là Cát Tường Nhiên Đăng Trí (Phạm: Dìpakarazrìjĩàna, cũng gọi Nhiên Đăng Cát Tường Trí). Ngài từng Tham Học các đại sư Mạt-để-nhã-na-bồ-đề (Phạm:Matijĩàna bodhi), Trí Tường Hữu, Pháp Hộ (Phạm: Dhar-marakwita), A-phạ-đô-để-ba (Phạm: Avadhùtipa), Bảo sinh Tịch Tĩnh (Phạm: Ratnakaràsantipa), Tiểu-cô-tát-lê, Nhật-tỉ-khô-cử (Tạng: Rigs-pa#i khu-byug). Sau, ngài đến chùa Siêu Giới (Phạm: Vikramazìla) ở nước Ma-yết-đà giảng dạy về Đại-tất-địa và các học thuyết Đại Thừa. Năm 1083 Tây lịch, nhận lời mời của vua Tây Tạng là A-lí-Trí Quang và Bồ-đề quang, ngài rời Ma-yết-đà đi Tây Tạng. Bấy giờ, Tín Đồ Phật giáo Tây Tạng đều tu theo tà pháp, không trọng đức hạnh, ngài bèn soạn sách, lập thuyết nhằm khôi phục nền Phật giáo Ấn Độ chân chính, chấn hưng giới luật, thống nhất Phật giáo Tây Tạng, sáng lập phái Ca Đương, đi giáo hóa khắp xứ Tây Tạng, cứu vãn phong tục đồi trụy, đặt ra phép tắc mới, bộ mặt Phật giáo Tây Tạng nhờ đó thay đổi hoàn toàn. Trong thời gian ấy ngài Phiên Dịch Kinh Điển và soạn thuật, hình thành cuộc phục hưng Phật giáo Tây Tạng trước kia chưa từng có. Về sau, ngài nhập tịch ở chùa Nhiếp Đường (Phạm: Sĩi-tha) phía Tây nam Lạp-tát (Lhasa), thọ 73 tuổi. Những Kinh Điển do ngài dịch gồm có: luận Nhị Vạn Quang Minh, Nhiếp Đại Thừa Luận Thích, luận Phân Biệt Nhiên, Thừa Bảo Tính Luận Thích. Ngài soạn thuật hơn ba mươi bộ, như: luận Bồ Đề Đạo Đăng, kinh Thập Bất Thiện Nghiệp Đạo, Hành Tập Đăng, luận Nhập Nhị Đế, Trung Quán Giáo Thụ, Vô Cấu Bảo Thư Hàn...tất cả hơn 30 bộ. Trong số này, luận Bồ Đề Đạo Đăng là trọng yếu hơn cả. Tác phẩm này đã được sư Pháp Tôn dịch ra Hán văn và xuất bản vào năm 1978. Về phương diện tu hành, Ngài cực lực Đề Xướng gồm tu giữ giới, Thiền định và Quán Pháp. Ngài còn lập Giáo Phán Tam Sĩ Giáo (Tạng: skyed-bus gum-gyi lamgyi rim-pa), chủ trương tu tập theo thứ tự phù hợp với ba căn thượng, trung, hạ. Ngoài ra, ngài đặc biệt tôn sùng Tín Ngưỡng Hóa Thân Văn Thù. Trong việc dạy học, truyền đạo, vì ngài đặc biệt coi trọngnghiệp quả, nên người đời còn tôn xưng ngài là Nghiệp Quả luận sư. Ngài suốt đời giáo hóa, Đệ Tử học pháp rất đông, những người nổi tiếng hơn cả thì có: Khố Đốn (Tạng:Khu-ses-rab brtsonhgrub), Nặc Khố (Tạng: Rnog bloldanses-rab), Lạc Mẫu Đông (Tạng: Hbrom-ston) v.v... Trong tư tưởng Phật giáo, ngài một mực phản đối việc trước nay lấy luận Trung Quán của Bồ-tát Long Thụ làm trào lưu chủ yếu của tư tưởng đương thời, mà cổ xúy tư tưởng Du Già của Bồ-tát Di Lặc. Giáo nghĩa của Phật giáo Tây Tạng vốn rất đơn điệu, sau khi được tư tưởng mới này khích thích, thì ngoài phái Ca Đương đã sẵn có, còn chia ra phái Tát-ca (Tạng: Saskya-pa) và phái Ca- nhĩ-cư (Tạng: Bka#- bagyud-pa). Trong các Đệ Tử, sư Lạc Mẫu Đông kế thừa thuyết của ngài, mở rộng giáo thuyết của phái Ca Đương, có ảnh hưởng rất lớn đối với các phái Phật giáo Tây Tạng phát triển sau này. Ngài Tông Khách Ba khai sáng phái Ngạch Nhĩ Đức (Tạng: Dge-lugs-pa) lấy giáo nghĩa do ngài A-đề-sa Đề Xướng làm trung tâm, vì thế nên phái Ngạch Nhĩ Đức còn được gọi là phái Ca Đương mới. [X. Đa-la-na-tha Ấn Độ Phật Giáo sử; Lạt-Ma Giáo sử lược (Trần Thiên Âu); Biên Cương Chính Giáo Chi Nghiên Cứu (Hoàng Phấn Sinh); Tây Tạng Phật Giáo sử (Thánh Nghiêm); Tây Tạng Phật Giáo Đích Ca Đương Phái (Hiện Đại Phật Giáo Học Thuật Tùng San 75); Tây Tạng Phật Giáo (Trúc Tùng Đơn Truyện)].