Xuất Gia

《出家》 chū jiā

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: pravrajyā, Pāli: pabbajjā Jātaka: shukke: âm dịch là Ba Phệ Nễ Da () tức ra khỏi sinh hoạt gia đình Thế Tục, chuyên tâm tu tập tịnh hạnh của bậc Sa Môn (Sanskrit: śramaṇa, Pāli: samaṇa ). Từ này còn chỉ chung cho những người Xuất Gia, đồng nghĩa với Sa Môn, Tỳ Kheo (Sanskrit: bhikṣu, Pāli: bhikkhu ); đối lập với từ Tại Gia (). Trong Quy Sơn Cảnh Sách Cú Thích Ký (, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1240) quyển Hạ giải thích Xuất Gia có 2 nghĩa: “Xuất Gia hữu nhị, nhất xuất Thế Tục gia, túc ly trần tục, viễn tham tri thức; nhị xuất Phiền Não gia, đoạn vọng Chứng Chơn, đốn siêu Tam Hữu (, Xuất Gia có hai, một là ra khỏi nhà Thế Tục, chân xa lìa trần tục, đi xa tham vấn tri thức; hai là ra khỏi nhà Phiền Não, đoạn sai lầm chứng Chân Thật, vượt ra khỏi Ba Cõi).” Hay trong Tứ Thập Nhị Chương Kinh Chú (, Tục Tạng Kinh Vol. 37, No. 669) lại giải thích Xuất Gia có 3 nghĩa: “Cát ái từ thân, thân Xuất Gia dã; Thức Tâm đạt bổn, tâm Xuất Gia dã. Xuất Gia hữu tam, nhất từ thân, xuất Thế Tục gia; nhị Ngộ Đạo, xuất Ngũ Uẩn gia; tam Chứng Quả, xuất Tam Giới gia (, cắt yêu thương, từ cha mẹ là thân Xuất Gia; biết rõ tâm, đạt nguồn chơn là tâm Xuất Gia; Xuất Gia có ba, thứ nhất từ cha mẹ, ra khỏi nhà Thế Tục; thứ hai Ngộ Đạo, ra khỏi nhà Năm Uẩn; thứ ba Chứng Quả, ra khỏi nhà Ba Cõi).” Bên cạnh đó, Tục Đăng Chánh Thống (, Tục Tạng Kinh Vol. 84, No. 1583) quyển 23 cho rằng Xuất Gia có 4 nghĩa: “Nhất xuất trần tục Ân Ái gia, nhị xuất Tam Giới hỏa trạch gia, tam xuất thô hoặc Phiền Não gia, tứ xuất tế hoặc Vô Minh Gia, xuất đắc tứ chủng gia, thỉ xưng Nạp Tăng gia (, thứ nhất ra khỏi nhà Ân Ái trần tục, thứ hai ra khỏi nhà bốc lửa Ba Cõi, thứ ba ra khỏi nhà Phiền Não thô hoặc, thứ tư ra khỏi nhà Vô Minh tế hoặc, ra khỏi được bốn loại nhà ấy, mới gọi là nhà Nạp Tăng).” Ngoài ra, Xuất Gia còn có 3 loại khác là thân Xuất Gia mà tâm không Xuất Gia, tâm Xuất Gia mà thân không Xuất Gia, và cả thân và tâm đều Xuất Gia. Phàm người phát tâm Xuất Gia thì phải cạo bỏ râu tóc, xả đi áo quần Thế Tục mà mang vào áo hoại sắc; cho nên Xuất Gia còn được gọi là lạc sức (), Thế Phát (), Lạc Phát Nhiễm Y (), Thế Phát nhiễm y (), thế nhiễm (), lạc nhiễm (), Trĩ Nhiễm (). Trong 7 chúng Đệ Tử của Phật, ngoại trừ 2 chúng Tại Gia là Ưu Bà Tắc (s, Pāli: upāsaka ) và Ưu Bà Di (s, Pāli: upāsikā ); 5 chúng còn lại thuộc hàng ngũ Xuất GiaTỳ Kheo (Sanskrit: bhikṣu, Pāli: bhikkhu ), Tỳ Kheo Ni (Sanskrit: bhikṣuṇī, Pāli: bhikkhunī ), Sa Di (Sanskrit: śrāmaṇera, Pāli: sāmaṇera ), Sa Di Ni (Sanskrit: śrāmaṇerikā, Pāli: sāmaṇerā sāmaṇerī, ), Thức Xoa Ma Na (Sanskrit: śikṣamāṇa, Pāli: sikkhamānā ); được gọi là Ngũ Chúng Xuất Gia. Từ xưa, Xuất Gia vốn phát xuất từ Ấn Độ, từ thời đại Phệ Đà (Sanskrit: Veda, ) đã có người từ bỏ Thế Tục, xa gia đình để cầu giải thoát. Về sau, giáo đồ Bà La Môn kế thừa phong tục này, phần nhiều vào trong rừng sâu thanh vắng, chuyên tâm tu đạo. Phật Giáo khởi đầu từ việc Xuất Gia học đạo của đức Thích Tôn, về sau mới tổ chức thành giáo đoàn. Tuy nhiên, một trong những nguyên tắc quan trọng phải tuân thủ khi Xuất Gia là phải được sự chấp thuận của cha mẹ. Cho nên, trong Căn Bổn Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Phá Tăng Sự (, Taishō Vol. 24, No. 1450) quyển 17 có khẳng định rằng: “Phụ mẫu bất thính, bất đắc Xuất Gia thọ giới (, cha mẹ không bằng lòng, không được Xuất Gia thọ giới).” Có khá nhiều tác phẩm tranh vẽ, điêu khắc về Hình Tượng Xuất Gia của đức Phật, tối cổ nhất là tác phẩm ở Đại Tháp Madras, Amarāvatī, Ấn Độ. Trên cửa phía Đông của Đại Tháp Sanchi ở miền Trung Ấn cũng có các phù điêu diễn tả cảnh tượng đức Phật Xuất Gia như thế nào. Về phía Trung Quốc, tại Thê Hà Tự () ở Giang Tô (), Linh Nham Quật Tự () ở Sơn Tây (西), vẫn còn những bức phù điêu khắc cảnh đức Thích Tôn đến nơi thanh tĩnh, cỡi bỏ mũ báu trao cho Xa Nặc (Sanskrit: Chandaka, Pāli: Channa ), rồi tự lấy bảo kiếm cắt tóc Xuất Gia. Về Công Đức Xuất Gia, Phật Thuyết Xuất Gia Công Đức Kinh (, Taishō Vol. 16, No. 707) có thuật rõ như sau: “Bất Xuất Gia giả, mạng chung hoặc năng đọa ư Địa Ngục (, người không Xuất Gia, sau khi mạng hết hoặc có thể bị đọa vào Địa Ngục)”; hay “dĩ nhất nhật nhất dạ Xuất Gia cố, mãn nhị Thập Kiếp, bất đọa Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, thường sanh thiên nhân, Thọ Phước Tự nhiên (滿, vì lấy một ngày một đêm Xuất Gia, nên tròn hai mươi kiếp, không đọa Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh, thường sanh Trời người, hưởng phước tự nhiên).”