Vô Sanh

《無生》 wú shēng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: còn gọi là vô khởi (), có hai nghĩa. (1) Thật Tướng của các Pháp Không có sanh diệt; đồng nghĩa với Vô Sanh diệt () hoặc Vô Sanh vô diệt (). Sự tồn tại của các pháp vốn không có thật thể, do Nhân Duyên mà thành, là không, nên có thể nói rằng không có sanh diệt. Tuy nhiên, hạng Phàm Phu mê lầm lý Vô Sanh này, nên khởi lên Phiền Não về sanh diệt, vì vậy bị Lưu Chuyển Sanh Tử. Nếu nương theo kinh luận, quán lý Vô Sanh thì có thể trừ được Phiền Não sanh diệt. (2) Là ý dịch của A La Hán (Sanskrit: arhat, Pāli: arahant ) hay Niết Bàn (Sanskrit: nirvāṇa, Pāli: nibbāna ). A La Hán có nghĩa là bất sanh (, không sanh), tức đoạn tận Phiền Não của Ba Cõi, không còn trở lại thọ sanh trong Ba Cõi này nữa. Lại nữa, người nương theo Bản Nguyện Vãng Sanh Tịnh Độ của đức Phật A Di Đà, là khế hợp với Bản Nguyện của Ngài, nhân Vô Sanh này chính là lý của Niết Bàn; cho nên khác với cái gọi là sanh vọng tưởng hư huyễn trong Nội Tâm của kẻ Phàm Phu. Về điểm này, Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Bà Đề Xá Nguyện Sanh Kệ Chú (, tức Vãng Sanh Luận Chú [], Taishō Vol. 40, No. 1819) quyển Hạ gọi là “Vô Sanh chi sanh (, sanh của Vô Sanh).” Từ quan điểm không sanh diệt của Niết Bàn mà nói, tức chỉ giác ngộ Niết Bàn, cũng tức là Chứng Đắc thân Vô Sanh; Cực Lạc là khế hợp với Thế Giới của Niết Bàn; và từ nghĩa này, có tên gọi là Vô Sanh giới (, cõi Vô Sanh). Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đa La Liễu Nghĩa Kinh (, Taishō Vol. 17, No. 842) quyển 1 dạy rằng: “Nhất Thiết Chúng Sanh ư Vô Sanh trung, vọng kiến sanh diệt, thị cố thuyết danh luân chuyển Sanh Tử (, hết thảy Chúng Sanh trong Vô Sanh, lầm thấy sanh diệt, cho nên gọi là luân chuyển Sanh Tử).” Trong Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh (, Taishō Vol. 16, No. 665) quyển 1 còn khẳng định thêm rằng: “Vô Sanh thị thật, sanh thị Hư Vọng, Ngu Si chi nhân, phiêu nịch Sanh Tử, Như Lai thật thể, vô hữu Hư Vọng, danh vi Niết Bàn (, Vô Sanh là thật, sanh là giả dối, người mà Ngu Si, trôi lăn Sanh Tử, thật thể Như Lai, không có giả dối, gọi là Niết Bàn).” Hay trong Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh (, Taishō Vol. 8, No. 245) quyển Thượng cũng cho biết rằng: “Nhất Thiết Pháp tánh Chân Thật không, Bất Lai Bất Khứ, Vô Sanh vô diệt, đồng chơn tế, đẳng Pháp Tánh (, tất cả Pháp Tánh Chân Thật không, chẳng đến chẳng đi, không sanh không diệt, đồng với chơn tế, ngang với Pháp Tánh).” Trong bài kệ Thị Tịch Thiền Sư Quảng Nghiêm (, 1121-1190) thuộc thế hệ thứ 11 của dòng Thiền Vô Ngôn Thông Việt Nam có câu rằng: “Ly tịch phương ngôn Tịch Diệt khứ, sanh Vô Sanh hậu thuyết Vô Sanh (, lìa diệt mới cho Tịch Diệt hết, đạt Vô Sanh rồi nói Vô Sanh).”