Viên Tịch

《圓寂》 yuán jì

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: ý dịch của Phạn ngữ parinirvāṇa (s.); Cựu DịchDiệt Độ (), Nhập Diệt (); còn gọi là quy tịch (), Thị Tịch (), nhập tịch (); đồng nghĩa với Niết Bàn (), thiên hóa (), thuận thế (), Quy Chơn (); nghĩa là tròn đầy các đức, diệt hết các điều ác. Sự qua đời của đức Phật nghĩ là thâu hóa dụng của cõi mê mà nhập vào cảnh giới giác ngộ; xả đi cảnh Tạp Nhiễm của Hữu Lậu mà nhập vào cảnh giới Niết Bàn vắng lặng Vô Lậu; nên gọi là Viên Tịch. Từ này cũng có nghĩa xa lìa cái khổ của Sanh Tử, đạt đến sự An Lạc tịnh diệu. Về sau, chư vị tăng ni qua đời cũng gọi là Viên Tịch. Trong Bát Nhã Tâm Kinh Giải Nghĩa (, Tục Tạng Kinh Vol. 26, No. 570) định nghĩa rằng: “Niết Bàn, thử vân Viên Tịch, đức vô bất bị xưng viên, chướng vô bất tận xưng tịch (, Niết Bàn, ở đây [Trung Hoa] gọi là Viên Tịch, đức không nơi nào mà không đầy đủ gọi là viên, chướng không chỗ nào mà không hết gọi là tịch).” Như trong Phật Pháp Kim Thang Biên (, Tục Tạng Kinh Vol. 87, No. 1628) quyển 8, phần Lý Bạch (), có đoạn: “Bản Tâm nhược Hư Không, thanh tịnh vô nhất vật, phần đãng dâm nỗ si, viên chiếu liễu Kiến Phật (, tâm gốc như Hư Không, trong sạch không một vật, đốt dâm đãng giận si, chiếu rõ rồi thấy Phật).” Hay trong Thiền Lâm Bị Dụng Thanh Quy (, Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1250) quyển 9, phần Phúng Kinh (), cũng có đoạn: “Thượng lai Phúng Kinh Công Đức, phụng vị tân Viên Tịch mỗ giáp Thượng Tọa (, khởi đầu tụng kinh Công Đức, kính vì Thượng Tọa … mới Viên Tịch).” Hoặc trong Thiền Đăng Thế Phổ (, Tục Tạng Kinh Vol. 86, No. 1601) quyển 1, phần Thanh Nguyên Hành Tư (), lại có đoạn rằng: “Ấu tuế Xuất Gia, cư Thanh Nguyên Sơn Tĩnh Cư Tự; Huyền Tông Khai Nguyên nhị thập bát niên thập nhất nguyệt thập tam nhật Viên Tịch, thụy Hoằng Tế, tháp viết Quy Tịch (, sư tuổi nhỏ Xuất Gia, sống ở Tĩnh Cư Tự thuộc Thanh Nguyên Sơn; vào ngày 13 tháng 11 năm thứ 28 [740] niên hiệu Khai Nguyên đời vua Huyền Tông [tại vị 712-756], sư Viên Tịch, Thụy Hiệu là Hoằng Tế, tháp tên là Quy Tịch).”