Viên Trân

《圓珍》 yuán zhēn

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Enchin, 815-891: vị tăng của Thiên Thai Tông Nhật Bản, sống dưới Thời Đại Bình An, Thụy Hiệu là Trí Chứng Đại Sư (), xuất thân vùng Tán Khi (, Sanuki, thuộc Kagawa-ken [] ngày nay), tục danh là Hòa Khí (), mẹ là Tá Bá (), đồng hàng với cháu Không Hải. Năm 15 tuổi, ông được người chú Nhân Đức () dẫn đến đầu sư với Nghĩa Chơn (, Gishin), đến năm 20 tuổi thọ giới rồi sau đó ẩn tu trong núi suốt 12 năm, và đến năm 32 tuổi mới ra lãnh chúng. Vì có chí sang nhà Đường cầu pháp, nên năm 853 ông sang Trung Quốc, đến Khai Nguyên Tự () ở Huyện Liên Giang (), thuộc Phúc Châu (, Tỉnh Phúc Kiến ngày nay), học Tất ĐàmBát Nhã Hằng Duy () và Luật Sớ ở Tồn Thức (). Sau khi đến Khai Nguyên Tự ở vùng Ôn Châu (, thuộc Tỉnh Triết Giang ngày nay), ông được Tông Bổn () trao cho các bản sớ Câu Xá Luận. Tiếp theo ông đến Đài Châu (, thuộcTỉnh Triết Giang ngày nay), thọ nhận một số văn bản Chương Sớ của Duy Ma Kinh, Nhân Minh Luận từ Tri Kiến (). Sau đó, ông lại đến Quốc Thanh Tự () ở trên Ngũ Đài Sơn và gặp được Vật Đắc (), Viên Tải (). Kế đến, ông được Pháp Toàn () của Thanh Long Tự () trao truyền Quán Đảnh của Kim Thai Lưỡng Bộ, và thọ nhận đại pháp của Tất Đàm Địa cũng như Tam Muội Da Giới. Ông cũng có học Mật Giáo với Trí Huệ Luân Tam Tạng (). Trong khoảng thời gian 7 tháng lưu lại tại Trường An, ông đã nhận được một số rất nhiều pháp cụ, sớ chương, và tham bái các ngôi chùa nổi tiếng nơi đây. Chính ông đã cúng tiền xây dựng phục hưng Quốc Thanh Tự, nên được gọi là Thiên Thai Sơn Quốc Thanh Tự Nhật Bản Quốc Đại Đức Tăng Viện ().Sau 6 năm lưu học cầu pháp, ông trở về nước, mang theo một số lượng lớn kinh sớ của Thiên Thai, Chơn Ngôn, Câu Xá, Nhân Minh, Tất Đàm, gồm khoảng hơn 440 bộ và 1000 quyển. Năm 859, thể theo lời thỉnh cầu của Đại Hữu (), ông chuyển đến ở tại Viên Thành Tự (, Onjō-ji) thuộc vùng Tam Tỉnh (, Mii), sau đó ông tạo nơi đây thành Thiên Thai Biệt Viện, và đến năm 868 thì được cử làm Tọa Chủ chùa này thay thế An Huệ (, Anne). Môn hạ của ông có Duy Thủ (, Yuishū), Du Hiến (, Yuken), Tăng Mạng (, Zōmyō), Tôn Ý (, Soni), v.v. Trước tác của ông có Đại Nhật Kinh Chỉ Quy () 1 quyển, Giảng Diễn Pháp Hoa Nghi () 2 quyển, Thọ Quyết Tập () 2 quyển.