Viên Giác

《圓覺》 yuán jué

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: tánh giác viên mãn, nghĩa là lý tánh do Như Lai chứng được có đầy đủ muôn đức, tròn đầy cùng khắp, Linh Diệu sáng tỏ. Hơn nữa, hết thảy Chúng Hữu tình đều có Bản Giác, chơn tâm, từ vô thỉ đến nay thường trú thanh tịnh, sáng rực không mê mờ, rõ ràng thường biết; nếu nói về thể thì đó là Nhất Tâm; nếu nói về nhân là Như Lai Tạng (); nói về quả là Viên Giác; cùng đồng nhất với Chân Như, Phật tánh, Pháp Giới, Niết Bàn, Bồ Đề, v.v. Trong Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đa La Liễu Nghĩa Kinh (, gọi tắt là Viên Giác Kinh, Taishō Vol. 17, No. 842) giải thích rằng: “Vô thượng Pháp Vương hữu đại Đà La Ni môn, danh vi Viên Giác, lưu xuất Nhất Thiết thanh tịnh Chân Như Bồ Đề Niết Bàn cập Ba La Mật, Giáo Thọ Bồ Tát (, đấng Pháp Vương vô thượng có Pháp Môn đại Đà La Ni tên là Viên Giác, lưu xuất hết thảy Chân Như, Bồ Đề, Niết BànBa La Mật, dạy dỗ và truyền trao cho Bồ Tát).” Hay trong Viên Giác Kinh Lược Sớ Tự Chú (, Tục Tạng Kinh Vol. 10, No. 256) của Khuê Phong Tông Mật (, 780-841) có chú giải rằng: “Vạn pháp hư ngụy, duyên hội nhi sanh, sanh pháp bổn vô, Nhất Thiết Duy Thức, thức Như Huyễn mộng, đản thị Nhất Tâm, tâm tịch nhi tri, mục chi vi Viên Giác (, muôn Pháp Không thật, do duyên gặp mà sinh ra, pháp sanh ra vốn không, hết thảy chỉ có biết, biết Như Huyễn mộng, chỉ là Nhất Tâm, tâm lặng mà biết, mắt thấy là Viên Giác).”