Tuyết Lãnh

《雪嶺》 xuě lǐng

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: có 3 nghĩa chính. (1) Đỉnh núi đầy tuyết. Như trong bài Tùng Quân Hành () của Lô Luân (, 739-799) nhà Đường có câu: “Tuyết Lãnh vô nhân tích, băng hà túc nhạn thanh (, núi tuyết chẳng bóng người, sông băng tiếng nhạn vang).” (2) Chỉ cho thánh địa Phật Giáo hay chỗ ở của chư tăng, đồng nghĩa với Tuyết Sơn (). Như trong bài thơ Hoài Huệ Minh Thiền Sư () của Bào Dong (, ?-?) nhà Đường có câu: “Tuyết Lãnh vô nhân hựu vấn lai, thập niên Hạ Lạp bình an phủ (, núi tuyết chẳng người đến thăm hỏi, mười năm Hạ Lạp bình yên không ?).” Hay trong Ngũ Đăng Toàn Thư (, Tục Tạng Kinh Vol. 82, No. 1571) quyển 89, phần Lâm Tế Tông (), Kinh Môn Khuê Sơn Ngũ Nhãn Dục Thiền Sư (), có đoạn: “Kinh hàn Tuyết Lãnh dĩ đa niên, đổ trước minh tinh tợ nhãn xuyên, Đông Độ Tây Thiên Kim Cổ hoán, giai đề trụ trượng hiện gia truyền (穿西, chịu hàn núi tuyết đã nhiều năm, thấy rõ trước mắt sao sáng quang, Đông Độ Tây Thiên xưa nay tỏ, thảy đều chống gậy hiện gia truyền).” Hoặc trong Thiên Thai Trí Giả Đại Sư Trai Kỵ Lễ Tán Văn (, Taishō Vol. 46, No. 1948) lại có câu rằng: “Hà duyên kim nhật ngẫu đắc Nhân Thân, hiệu Tuyết Lãnh Xuất Gia, trị Thiên Thai Di Giáo (, duyên gì hôm nay may được thân người, bắt chước Núi Tuyết [đức Phật Thích Ca] Xuất Gia, gặp được Thiên Thai [Trí Khải Đại Sư] giáo pháp).” (3) Chỉ cho Dân Sơn () ở Tứ Xuyên (). Như trong bài thơ Đỗ Công Bộ Thục Trung Ly Tịch () có câu: “Tuyết Lãnh vị quy thiên ngoại sứ, Tùng Châu do trú điện tiền quân (使殿, núi Dân chửa về ngàm dặm sứ, Tùng Châu còn đóng bao cấm quân).”