Tử Y

《紫衣》 zǐ yī

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Shie: pháp y hay y màu đỏ tía do triều định ban tặng cho vị Cao Tăng có đức độ lớn, còn gọi là Tử Phục (), Tử Ca Sa (). Vào năm đầu (690) niên hiệu Tải Sơ () nhà Đường, Tắc Thiên Võ Hậu () lấy Tử Y ban tặng cho nhóm Pháp Lãng () do đã có công trong việc Phiên Dịch Đại Vân Kinh (). Nguyên Lai Phật chế không được dùng màu đỏ tía, mùa lụa đào; tuy nhiên ở Trung Quốc từ ngàn xưa đã cho phép các vị cao quan mặc triều phục màu hồng, đỏ tía, rồi chế ra loại dây thao màu đỏ, đỏ tía, xanh, đen, vàng, v.v., để Phân Biệt vị trí cao thấp của các quan; còn tu sĩ cũng bắt chước như vậy nhưng chỉ mang Tử Y mà thôi. Từ năm thứ 2 (969) niên hiệu Khai Bảo () nhà Tống cho đến năm thứ 4 (979) niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc (), cứ mỗi dịp đản sanh của Thiên tử, nhà vua cho mời chư tăng khắp thiên hạ đến cung điện, thi 10 điều về nghĩa của kinh luật luận, nếu người nào thông hết cả 10 điều thì được ban cho Tử Y. Người mà nhận được Tử Y từ chính tay Thiên tử trao được gọi là Thủ Biểu Tăng (). Sau đó, nảy sinh sự lạm phát nên tạm thời bị phế chỉ việc trao Tử Y, chỉ khi nào có sự tiến cử của Thân Vương, Tể Tướng, Trưởng Quan ở địa phương mới được công nhận. Tại Nhật Bản, người mang Tử Y đầu tiên là Huyền Phưởng (, Genbō). Vào năm thứ 2 niên hiệu Linh Quy (), tức năm thứ 4 (716) niên hiệu Khai Nguyên () đời vua Huyền Tông () nhà Đường, ông sang nhà Đường cầu pháp, được vua Huyền Tông cúng dường, tôn lên làm quan Tam Phẩm và mang Tử Y. Sau khi trở về nước, Thánh Võ Thiên Hoàng () còn ban thêm cho Tử Ca Sa. Vị tăng của Thiền Tông mang Tử Y đầu tiên là vào năm đầu (1249) niên hiệu Kiến Trường (). Đó chính là Đạo Nguyên (, Dōgen) của Vĩnh Bình Tự (, Eihei-ji), tổ khai sáng Tào Động Tông Nhật Bản, người được tặng cả Danh Hiệu Thiền Sư và Tử Y. Vị tăng Tịnh Độ Tông mang Tử Y đầu tiên là vào khoảng thời gian niên hiệu Kiến Trị (, 1275-1277). Nhiên A Lương Trung () được mời vào cung nội truyền trao giới Viên Đốn Nhất Thừa và nhân đó được ban cho Tử Y cũng Như Pháp cụ. Thời xưa Tử Y ở vị trí cao nhất, kế đến là y lụa đào; nhưng đến thời Cận Đại thì cả hai được xếp ngang hàng với nhau. Trú trì những ngôi chùa tổ của các Tông Phái hay chư vị Cao Tăng đều có thể dùng 2 loại y này. Vào năm thứ 4 (1627) niên hiệu Khoan Vĩnh (), Hoàng Thất ban Tử Y cho các vị tăng ở Đại Đức Tự (, Daitoku-ji)Diệu Tâm Tự (, Myōshin-ji), việc này gây xung đột với chính quyền Mạc Phủ và tạo thành “Sự Kiện Tử Y” nổi tiếng trong lịch sử Phật Giáo Nhật Bản.