Tự Tại
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
s: vaśitā, vaśitva: vaśitā có nghĩa là năng lực thuận theo ý một cách tự nhiên, trong khi đó, vaśitva là thuận theo ý một cách tự nhiên; thế nhưng, về mặt ngữ nguyên thì cả hai không khác nhau. Từ Hán ngữ “Tự Tại” cũng có nghĩa là thuận theo ý một cách tự nhiên, đồng nghĩa với tự do (自由), là sự hoạt dụng của thân tâm xa lìa hết thảy mọi ràng buộc, được tự do Tự Tại. Trong Kinh Điển Phật Giáo, từ này được dùng để chỉ cảnh giới cũng như năng lực vô ngại của chư Phật và Bồ Tát vốn đã xa lìa sự ràng buộc của Phiền Não. Về năng lực Tự Tại, có nhiều thuyết khác nhau như 2 loại Tự Tại, 4 loại Tự Tại, 5 loại Tự Tại, 8 loại Tự Tại, 10 loại Tự Tại, v.v. Trong Hoa Nghiêm Kinh (Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 華嚴經) quyển 26 có đề cập đến 10 loại năng lực Tự Tại được trang bị đầy đủ nơi vị Bồ Tát từ địa thứ 8 trở lên, gồm Mạng Tự Tại (命自在), Tâm Tự Tại (心自在), Tài Tự Tại (財自在), Nghiệp Tự Tại (業自在), Sanh Tự Tại (生自在), Nguyện Tự Tại (願自在), Tín Giải Tự Tại (信解自在), Như Ý Tự Tại (如意自在), Trí Tự Tại (智自在) và Pháp Tự Tại (法自在). Ngoài ra, Đại Bảo Tích Kinh (大寶積經) quyển 68 liệt kê 5 loại năng lực Tự Tại của vị Bồ Tát có Pháp Thân là Thọ Mạng Tự Tại (壽命自在), Sanh Tự Tại, Nghiệp Tự Tại, Giác Quan Tự Tại (覺觀自在), và Chúng Cụ Quả Báo Tự Tại (眾具果報自在). Tại Trúc Khê Tự (竹溪寺) ở Phố Đài Nam (臺南市), Đài Loan (臺灣) có câu đối rằng: “Trúc mậu thành lâm quán Tự Tại, khê trừng vọng nguyệt ức cô viên (竹茂成林觀自在、溪澄望月憶孤園, trúc rậm thành rừng nhìn Tự Tại, khe trong trăng tỏ nhớ vườn xưa).” Hay tại Lý An Tự (理安寺) ở Hàng Châu (杭州), Tỉnh Triết Giang (浙江省) cũng có câu đối diễn tả tâm cảnh Tự Tại thoát tục của đất trời như sau: “Sơn gian nhật nguyệt tự lai khứ, thiên tế Phù Vân vô thị phi (山間日月自來去、天際浮雲無是非, trong núi trời trăng tự đi đến, bên trời mây nỗi chẳng thị phi).”