Tứ Đế

《四諦》 sì dì

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

s: catur-ārya-satya, Pāli: catu-ariya-sacca: Đế (Sanskrit: satya Pāli: sacca ) ở đây nghĩa là Chân Thật, bất hư, chân lý. Tứ Đế chỉ cho 4 loại chân lý đúng dắn, không sai lầm, không hư dối, gồm: Khổ (), Tập (), Diệt () và Đạo (); còn gọi là Tứ Chân Đế (); 4 chân lý này do bậc thánh thấy được nên gọi là Tứ Thánh Đế (), Tứ Diệu Đế (). Đại thể, Tứ Đế là Phật Giáo dùng để giải thích Hiện Tượng vũ trụ theo quy nạp của thuyết Thập Nhị Nhân Duyên (Sanskrit: dvādaśāṅga-pratītya-samutpāda, Pāli: dvādasaṅga-paṭicca-samuppāda ), là Đại Cương giáo nghĩa của Phật Giáo Nguyên Thủy, là bài Thuyết Pháp đầu tiên của đức Phật. Theo thứ tự, 4 chân lý này là Khổ Thánh Đế (), Khổ Tập Thánh Đế (), Khổ Diệt Thánh Đế (), Khổ Diệt Đạo Thánh Đế (); hoặc Khổ Thánh Đế (), Khổ Tập Đế (), Khổ Diệt Đế (), Khổ Diệt Đạo Thánh Đế (); hay Khổ Đế (), Khổ Tập Đế (), Khổ Tận Đế (), Khổ Xuất Yếu Đế (); hoặc Khổ Thánh Đế (), Tập Thánh Đế (), Chơn Thánh Đế (), Đạo Thánh Đế (). Trong đó, Khổ và Tập biểu thị quả và nhân của Thế Giới mê lầm; Diệt và Đạo biểu thị quả và nhân của Thế Giới chứng ngộ; nghĩa là quả của Thế Gian Hữu LậuKhổ Đế, quả của xuất Thế Gian Vô Lậu là Diệt Đế; nhân của Thế Gian Hữu LậuTập Đế, quả của xuất Thế Gian Vô Lậu là Đạo Đế. Theo Trung A Hàm Kinh (, Taishō Vol. 1, No. 26) quyển 7, Phân Biệt Thánh Đế Kinh (), A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 77, Đại Thừa A Tỳ Đạt Ma Tạp Tập Luận (, Taishō Vol. 31, No. 1606) quyển 7, v.v., cụ thể Tứ Đế là: (1) Khổ Đế (Sanskrit: duḥkha-satya, Pāli: dukkha-sacca ), còn gọi là Khổ Thánh Đế (Sanskrit: duḥkhārya-satya, ); khổ tức chỉ trạng thái bức bách thân tâm khổ não; mọi sự vật trên Thế Gian, dù hữu tình hay chẳng phải hữu tình, đều phải chịu khổ; hết thảy Thế Gian Bản Chất là khổ. Khổ Đế tức là chân lý về cái khổ thật sự liên quan đến vấn đề Sanh Tử. (2) Tập Đế (Sanskrit: samudaya-satya, Pāli: samudaya-sacca ), còn gọi là Tập Thánh Đế (Sanskrit: samudayārya-satya, ); tập đây nghĩa là sự thật về tất cả Phiền Não hoặc nghiệp thật sự có thể chiêu tập quả của khổ Sanh Tử trong Ba Cõi. Tập Đế là chân lý liên quan đến sự sanh khởi cũng như căn nguyên các nỗi khổ của con người trên cõi đời này. (3) Diệt Đế (Sanskrit: nirodha-satya, Pāli: nirodha-sacca ), còn gọi là Diệt Thánh Đế (Sanskrit: nirodhārya-satya, ); diệt ở đây nghĩa là Tịch Diệt, vắng lặng, thật sự đoạn trừ căn bản của khổ là Ái Dục thì sẽ được diệt khổ, có thể nhập vào cảnh giới Niết Bàn. Diệt Đế là chân lý liên quan đến sự diệt Tận Khổ và Tập. (4) Đạo Đế (Sanskrit: mārga-satya, Pāli: magga-sacca ), còn gọi là Đạo Thánh Đế (Sanskrit: mārgārya-satya, ); đạo nghĩa là có thể thông suốt, tức là con đường diệt khổ, như Chánh Kiến (), Chánh Tư Duy (), v.v., của Bát Chánh Đạo (Sanskrit: āryāṣṭāṇga-mārga, Pāli: ariyāṭṭhaṅgika-magga ); nếu nương vào đây mà tu hành, tức có thể siêu thoát hai sự thật Khổ và Tập, đạt đến cảnh giới Niết Bàn vắng lặng. Đạo Đế là chân lý liên quan đến Bát Chánh Đạo ấy. Sau khi thành đạo, đức Phật Thuyết Tứ Đế này cho 5 vị Tỳ Kheo, được xem như là lần Chuyển Pháp Luân đầu tiên. Đây là giáo nghĩa căn bản nhất trong các giáo lý Phật Giáo, là phương pháp Duy Nhất dể giải thoát khỏi Sanh Tử Luân Hồi. Về sau, Tứ Đế được xem như là pháp của Thanh Văn; ngoại trừ Phật Giáo Nguyên Thủy thuyết về giáo lý này, trong các Kinh Điển của Phật Giáo Đại Thừa cũng có đề cập đến giáo thuyết này, tỷ dụ như Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Phương Quảng Kinh (便, Taishō Vol. 12, No. 353), Bắc Bản Đại Bát Niết Bàn Kinh (, Taishō Vol. 12, No. 374) quyển 12, 13, v.v., không những có giải thích theo quan điểm Đại Thừa mà còn phát huy áo nghĩa của Tứ Đế nữa. Về tự tánh của Tứ Đế, các bộ phái đều có những dị thuyết. Căn cứ A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận quyển 77, các luận sư của A Tỳ Đạt Ma (Sanskrit: Abhidharma, ) lấy Ngũ Uẩn (Sanskrit: pañca-skandha, Pāli: pañca-khandha )Khổ Đế, nhân của Hữu LậuTập Đế, pháp Trạch Diệt (Sanskrit: pratisaṃkhyā-nirodha, Pāli: patisaṅkhā-nirodha )Diệt Đế, pháp Học, Vô Học là Đạo Đế. Về thứ tự Hiện Quán của Tứ Đế, theo A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (, Taishō Vol. 29, No. 1558) quyển 22, A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận quyển 78 cho biết rằng trước quán Khổ Đế, kế đến quán Tập Đế, Diệt Đế, Đạo Đế. Căn cứ vào Hiển Dương Thánh Giáo Luận (, Taishō Vol. 31, No. 1602) quyển 7 Trung, Đại Thừa Phật Giáo lấy nội dung của Tứ Đế diễn thành 8 loại, gọi là Bát Đế (, Tám Đế); gồm Hành Khổ Đế (), Hoại Khổ Đế (), Khổ Khổ Đế (), Lưu Chuyển Đế (), Tạp Nhiễm Đế (, tương đương với Khổ ĐếTập Đế), Lưu Tức Đế (, tương đương với Diệt Đế), Thanh Tịnh Đế (, tương đương với Diệt ĐếĐạo Đế), Chánh Phương Tiện Đế (便, tương đương với Đạo Đế). Bên cạnh đó, Đại Sư Trí Khải của Thiên Thai Tông căn cứ vào thuyết của Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Phương Quảng Kinh, Đại Bát Niết Bàn Kinh lại lập ra 4 loại Tứ Đế có sâu cạn bất đồng, tương đương với 4 giáo tướng Tạng, Thông, Biệt, Viên; gồm: (1) Sanh Diệt Tứ Đế (), do Tạng Giáo () thuyết ra, tùy theo việc sanh diệt Hữu Vi mà quán Nhân Quả của Tứ Đế là thật có sanh, diệt. (2) Vô Sanh Tứ Đế (), hay Vô Sanh Diệt Tứ Đế (), do Thông Giáo () thuyết ra, tùy theo Nhân Duyên các pháp tức là Không, Vô Sanh mà quán Nhân Quả Mê Ngộ của Tứ Đế, đều là không vô vốn chẳng có sanh diệt. (3) Vô Lượng Tứ Đế (), do Biệt Giáo () thuyết ra, tùy theo trong cõi ngoài cõi với vô số Sai Biệt, vô số nhân, mà Tứ Đế cũng có vô lượng các tướng. (4) Vô Tác Tứ Đế (), do Viên Giáo () thuyết ra, tùy theo đương thể của Mê Ngộ tức là Thật Tướng, mà quán sự đối lập mâu thuẩn giữa mê với ngộ tức chẳng phải mâu thuẩn, và tất cả đều là Thật Tướng. Ngoài ra, Pháp Tướng Tông lấy Diệt Đế lập ra Ba Diệt Đế, gồm: Hữu Tự Tánh Diệt (), Nhị Thủ Diệt () và Bản Tánh Diệt (); đối với Đạo Đế thì lập ra Ba Đạo Đế, gồm: Biến Tri Đạo (), Vĩnh Đoạn Đạo () và Tác Chứng Đạo (). Trong Viên Giác Kinh Đại Sớ Thích Nghĩa Sao (, Tục Tạng Kinh Vol. 9, No. 245) quyển 3 có đoạn rằng: “Hữu Khổ khả tri, hữu Tập khả đoạn, hữu Diệt khả chứng, hữu Đạo khả tu, mê tắc Khổ Tập Diệt nhi chân đạo diệt, ngộ tắc Khổ Tập Diệt nhi chánh đạo sanh, hữu khả sanh diệt, cố vân Sanh Diệt Tứ Đế (, có Khổ biết được, có Tập đoạn được, có Diệt chứng được, có Đạo tu được, mê thì Khổ Tập sanh mà chân đạo diệt, ngộ thì Khổ Tập Diệt mà chánh đạo sanh, có khả năng sanh diệt như vậy, nên gọi là Sanh Diệt Tứ Đế).” Hay trong Thích Thiền Ba La Mật Thứ Đệ Pháp Môn (, Taishō Vol. 46, No. 1916) quyển 9 cũng có đoạn: “Niệm Tử tức ngộ vô thường Tứ Đế, nhược Tam Giới bệnh tận tức đắc Chứng Đạo (, nghĩ nhớ bệnh là ngộ vô thường Tứ Đế, nếu Ba Cõi bệnh hết tức được Chứng Đạo).”