Từ Bi Tam Muội Thủy Sám Pháp

《慈悲三昧水懺法》 cí bēi sān mèi shuǐ chàn fǎ

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

: hay còn gọi là Từ Bi Thủy Sám Pháp (, Taishō No. 1910), 3 quyển, do Tri Huyền (, 811-883) nhà Đường trước thuật, là bộ sách chỉ về phương pháp Sám Hối, hình thành từ bản Viên Giác Kinh Tu Chứng Nghi () của Tông Mật (, 780-841), được thâu lục vào trong Taishō quyển 45. Dưới thời vua Ý Tông nhà Đường, Quốc Sư Ngộ Đạt Tri Huyền có mụt nhọt mặt người trên đầu gối, khuôn mặt ấy có đầy đủ lông mày, mắt, miệng, răng; cứ mỗi lần ăn uống thì cũng đút cho ăn, nó hả miệng nhai nuốt chẳng khác chi người thường cả. Tuy Ngộ Đạt có mời danh y đến chữa nhưng vô hiệu. Sau nhờ có tôn giả Ca Nặc Ca () giúp đỡ, ông thành tâm Sám Hối và dùng nước Tam Muội rửa mụt nhọt ấy, mụt mới lành. Nhân đó Quốc Sư bèn viết ra sách này để cho người đời sau nương đó mà Sám Hối. Hình thức của sách này cũng giống như các sách Sám Hối khác, trước hết đối trước chư Phật và Bồ Tát quy y, sau đọc văn Sám Hối, Sám Hối đối với hết thảy các Phiền Não Chướng cũng như Nghiệp Chướng và báo chướng của Bốn Loài, Sáu Đường. Cuối cùng là văn Hồi Hướng Phát Nguyện. Nếu Chúng Sanh nào nương vào phương pháp Sám Hối này mà chí thành Sám Hối tội lỗi của mình, có thể làm cho tiêu tan những oan nghiệp trong đời trước. Cho nên phương pháp này được thịnh hành mãi cho đến ngày nay dưới tên gọi là Thủy Sám. Tại Việt Nam, hình thức này cũng được ứng dụng rộng rãi trong Thiền Môn cũng như tầng lớp Tại Gia Cư Sĩ. Trong Từ Bi Thủy Sám Pháp có giải thích rằng: “Phù Tam Muội Thủy Sám giả, nhân Đường Ngộ Đạt Quốc Sư Tri Huyền, ngộ Ca Nặc Ca Tôn Giả, dĩ Tam Muội thủy vi trạc tích thế oán cừu, Tri Huyền toại diễn Đại Giác chi chỉ, thuật vi sám văn (, phàm Tam Muội Thủy Sám là nhân vì Ngộ Đạt Quốc Sư Tri Huyền nhà Đường, gặp Tôn Giả Ca Nặc Ca, lấy nước Tam Muội để rửa sạch các oán thù tích chứa xưa kia; Tri Huyền bèn diễn bày ý chỉ của đấng Đại Giác, thuật lại thành văn Sám Hối).” Bản chú giải về Sám Pháp này có Từ Bi Đạo Tràng Thủy Sám Pháp Khoa Chú (, CBETA No. 1496) của Long Trú ().