Trung Gian Đằng Thọ
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
Nakae Tōju, 1608-1648: Nho gia sống vào khoảng đầu thời Giang Hộ; tên là Nguyên (原, Hajime); tự Duy Mạng (惟命); thông xưng là Dữ Hữu Vệ Môn (與右衛門); Biệt Hiệu là Mặc Hiên (嘿軒), Cận Giang Thánh Nhân (近江聖人); xuất thân vùng Cận Giang (近江, Ōmi). Ban đầu, ông làm việc Phiên Đại Châu (大洲藩, Ōzu-han) ở Y Do (伊予, Iyo); lúc còn thanh niên, bị một Thiền tăng làm xúc phạm, ông lấy bộ Tứ Thư Đại Toàn (四書大全) và bắt đầu học tập về Chu Tử Học. Năm 1634 (Khoan Vĩnh [寛永] 11), ông xin thôi việc với lý do hiếu đạo nuôi dưỡng mẹ đang lâm bệnh, nhưng không được cho phép; nên ông rời khỏi Phiên và trở về cố hương. Sau đó, ông viết cuốn Trì Kính Đồ Thuyết (持敬圖說), Nguyên Nhân (原人); có quan niệm nghi ngờ rất sâu về Chu Tử Học và bắt đầu có khuynh hướng tôn giáo Tín Ngưỡng Thần Thái Ất (太乙神). Năm 1640 (Khoan Vĩnh 17), ông có dịp tiếp xúc với các tác phẩm Tánh Lý Hội Thông (性理會通), Vương Long Khê Ngữ Lục (王龍溪語錄) thuộc hệ Dương Minh Học, nên thật sự giã từ Chu Tử Học. Ông Vấn Đáp (翁問答), trước tác của ông vào thời kỳ này, thuyết về tư tưởng hiếu đạo với văn chương trong sáng, là một trong những tác phẩm tiểu biểu nhất. Đến cuối đời, ông chuyên tâm viết bộ Dương Minh Toàn Tập (陽明全集) và chuyển hướng về Dương Minh Học; nên ông được xem như là Tổ của Dương Minh Học Nhật Bản. Đệ Tử của ông có Hùng Trạch Phiên Sơn (熊澤藩山), Uyên Cương Sơn (淵岡山), v.v.