Trung Luận
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
s: Madhyamaka-kārikā, Jātaka: Chūron: trước tác của Long Thọ (Sanskrit: Nāgārjuna 龍樹, khoảng 150-250). Với tựa đề luận thư bằng tiếng Sanskrit có nghĩa là “các bài tụng nói về Trung”, trong bài tụng Duyên Khởi thứ 18 của chương 24 nói về “Khảo Sát Thánh Đế” có đoạn rằng: “Cái có Duyên Khởi, ta thường gọi là Không Tánh.” Không Tánh (空性) này vốn phát xuất từ “sự thiết định trên bình diện Nhận Thức trên cơ sở của vật chất, là thật tiễn của Trung (Trung Đạo [中道]).” Nói tóm lại, Trung Luận làm sang tỏ hình thức tồn tại của Duyên Khởi (緣起), Không Tánh (空性) và Giả (假), là luận thư lấy thật tiễn của cái Trung làm khóa đề. Toàn thể luận thư này được cấu thành bởi 27 chương, khởi đầu bằng “sự khảo sát về điều kiện sanh khởi (Duyên [緣])” để giải thích về tư tưởng Bất Sanh (不生, hết thảy sự vật không sanh khởi một cách độc lập mà phải phụ thuộc vào các duyên). Từ quan điểm cho rằng ngôn ngữ, quan niệm chấp thủ sự vật một cách cố định, chính là căn nguyên của Phiền Não, phương pháp luận chỉ trích triệt để mâu thuẩn hàm chứa trong quan niệm và ngôn ngữ được dùng đến trong luận thư này. Chính vì “Không Tánh là xa lìa hẳn hết thảy lối tư duy cố định”, hình thức biểu hiện quy nạp luận chứng rất phổ biến trong tác phẩm này. Sách chú thích có Vô Úy Chú (無畏注), Hán dịch Trung Luận (中論) của Thanh Mục (Sanskrit: Piṅgala, 青目, khoảng thế kỷ thứ 4), Phật Hộ Chú (佛護注) của Phật Hộ (Sanskrit: Buddhapālita, 佛護, khoảng 470-540), Bát Nhã Đăng Luận (般若燈論) của Thanh Biện (Sanskrit: Bhāvaviveka, 清辨, khoảng 490-570), Tịnh Minh Cú Luận (淨明句論) của Nguyệt Xưng (Sanskrit: Candrakīrti, 月稱, khoảng 650), v.v. Về phương pháp chú thích cũng có nhiều dạng khác nhau.