Trung Đạo
Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển
Định nghĩa thuật ngữ
s: madhyamā-pratipad, Pāli: majjhima-paṭipadā: Trung không có nghĩa là ở giữa trung gian, mà có nghĩa là vượt qua hai lập trường cực đoan tương hổ, đối lập mâu thuẩn lẫn nhau, không trú ở bên nào cả và cũng không trú ở giữa. Đạo chỉ cho phương Pháp Thực tiễn. Nó chỉ cho sự chứng ngộ của đức Thích Tôn nhờ Bát Chánh Đạo (Sanskrit: āryāṣṭāṇga-mārga, āryāṣṭāṇa-mārga, Pāli: ariyāṭṭhaṅgika-magga 八正道) với nội dung tập trung tinh thần, không Thiên Chấp một bên nào cả, chủ nghĩa Khổ Hạnh hay chủ nghĩa khoái lạc. Đó được gọi là Trung Đạo của Không Khổ Không Lạc. Trong Phật Giáo thời kỳ đầu, Trung Đạo của Không Khổ Không Lạc này đóng vai trò chủ chốt; nhưng Trung Đạo của Không Đoạn Không Thường hay Trung Đạo của Phi Hữu Phi Vô cũng được đề cập đến. Tác phẩm Trung Luận (Sanskrit: Mādhyamakakārikā, 中論) của Long Thọ (Sanskrit: Nāgārjuna, 龍樹, khoảng 150-250) đặt Duyên Khởi (緣起), Không Tánh (空性), Giả (假) và Trung Đạo đồng hàng với nhau; cho nên, Trung Quán Phái lấy Trung Đạo làm tiêu chỉ. Theo Du Già Hành Phái (瑜伽行派) đối tượng Nhận Thức không phải là cái bên ngoài, mà chỉ là sự hiển hiện của Thức, nên nó không phải là có (phi hữu); nhưng vì sự hiển hiện của Thức vốn tồn tại trong hiện thực, nên nó là không phải không có (phi vô). Vì vậy, họ chủ trương Duy Thức Trung Đạo (唯識中道); có nghĩa rằng trong Nhất Thiết Duy Thức (一切唯識, tất cả đều là Tác Dụng của Nhận Thức), tìm ra Trung Đạo. Hơn nữa, tại Trung Quốc, trên cơ sở của Trung Luận, Tam Luận Tông (三論宗) thì chủ trương Bát Bất Trung Đạo (八不中道) trên cở sở của Bất Sanh Bất Diệt (不生不滅, không sanh không diệt), Bất Thường Bất Đoạn (不常不斷, không thường không đoạn), Bất Nhất Bất Dị (不一不異, không một không khác), Bát Lai Bất Khứ (不來不去, không đến không đi); Thiên Thai Tông (天台宗) thì thuyết về Trung Đạo theo Tam Quán (三觀) của Không, Giả, Trung.