Trí Khải

《智顗》 zhì yǐ

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

Chigi, 538-597: vị Thiền Tăng Thống nhiếp Phật Giáo Trung Quốc trong khoảng 3 triều đại Lương, Trần và Tùy với Thiên Thai giáo nghĩa của ông, vị Tổ Sư khai sáng ra Thiên Thai Tông. Ông cũng được xem như là vị Tổ Sư thứ 3, kế thừa Huệ Văn () và Huệ Tư (). Xuất thân từ Huyện Hoa Dung (), Kinh Châu (, thuộc Tỉnh Hồ Nam ngày nay), ông là con của Trần Khởi Tổ (), vị cao quan thời nhà Lương, tự là Đức An (). Lúc 15 tuổi, ông gặp phải nạn Hầu Cảnh (), đến năm 18 tuổi thì Xuất Gia ở Quả Nguyện Tự () vùng Sương Châu (, thuộc Trường Sa, tỉnh Hồ Nam). Sau một thời gian đi Tham Học tu tập ở các nơi, đến năm 23 tuổi, ông đến làm môn hạ của Huệ Tư () ở Đại Tô Sơn (), Quang Châu (), tu học Pháp Hoa Tam Muội và được khai ngộ. Vâng theo lời thầy, ông cùng với nhóm Pháp Hỷ () gồm 27 người vào Kim Lăng (, Nam Kinh), thuyết giảng Pháp Hoa Kinh ở Ngõa Quan Tự (). Từ đó Thỉ Hưng Vương () nhà Trần và một số vị cao quan khác ở Kim Lăng cũng quy y theo ông; hơn nữa các vị Cao Tăng Như Pháp Tế (), Đại Nhẫn (), Huệ Biện (), Huệ Vinh (), v.v., ở đây cũng đến nghe pháp. Đến năm 34 tuổi, ông từ giã kinh thành trở về Thiên Thai Sơn và bắt đầu lập nên hệ thống Thiên Thai giáo học. Vào năm 584, nhận lời cung thỉnh của vua Trần, ông đến Linh Diệu Tự () và Quảng Trạch Tự () thuyết giảng. Đến năm 588, vì chiến loạn ông phải đến lánh nạn ở địa phương Kinh Châu ()Lô Sơn (); nhưng sau khi nhà Tùy thống nhất thì Văn Đế và Tấn Vương Quảng quy y theo ông. Chính ông đã truyền trao Bồ Tát Giới cho Tấn Vương, và được ban tặng hiệu là Trí Giả Đại Sư (). Sau đó ông sáng lập nên Ngọc Tuyền Tự () ở cố hương của mình là Kinh Châu, rồi năm 593 thì giảng bộ Pháp Hoa Huyền Nghĩa (), và năm sau thì bộ Ma Ha Chỉ Quán (). Sau ông đi xuống vùng Dương Châu, dâng hiến bộ Duy Ma Sớ () cho Tấn Vương, và lại trở về Thiên Thai Sơn, thành lập nên Quy Phạm của giáo đoàn và Nỗ Lực xác lập học thuyết Chỉ Quán. Vào năm 597, trên đường lên kinh đô theo lời thỉnh cầu của Tần Vương, ông thọ bệnh ở Thạch Thành Tự ()Thị Tịch tại đây vào ngày 24 tháng 11 cùng năm. Các sách giảng thuật của ông ngoài Tam Đại Bộ là Pháp Hoa Huyền Nghĩa (), Pháp Hoa Văn Cú ()Ma Ha Chỉ Quán () ra, còn có một số soạn thuật hơn 10 bộ dựa trên Duy Ma Kinh, Kim Quang Minh Kinh, Quán Âm Kinh để giải thích về Ngũ Trùng Huyền Nghĩa () như Thứ Đệ Thiền Môn (), Lục Diệu Pháp Môn (), Thiên Thai Tiểu Chỉ Quán (), v,v. Từ tư tưởng Pháp Hoa Tam Muội (), Tam Quy Tam Quán (), Nhất Niệm Tam Thiên (), Ngũ Thời Bát Giáo (), v.v., mang tính độc đáo riêng biệt của mình, ông được xưng tụng như là người thứ Nhất Hình thành nên Phật Giáo Trung Quốc. Ông là người đầu tiên thiết lập nên hồ Phóng Sanh rất nổi tiếng mà vẫn còn lưu lại cho đến ngày nay.