Trấn Hộ Quốc Gia

《鎭護國家》 zhèn hù guó jiā

Điển cứ gốc: Tự Điển Phật Học Đạo Uyển

Định nghĩa thuật ngữ

chingokokka: cầu nguyện Thần, Phật để tiêu diệt các tại hại và đuổi lui ngoại xâm. Vào khoảng giữa thế kỷ thứ 6, Thánh Minh Vương () của triều Bách Tế (, Kudara) đem dâng hiến tượng Phật cũng như kinh luận; Khâm Minh Thiên Hoàng (, Kimmei Tennō) lấy thái độ trung lập, khi ấy Tô Ngã Đạo Mục (, Soga-no-iname) bèn thọ nhận các tượng Phật, v.v (Thị Tộc Phật Giáo). Vào tháng 5 năm thứ 6 (660) đời vua Tề Minh Thiên Hoàng (, Saimei Tennō), để đối phó với tình thế quân sự ở bán đảo Triều Tiên, nhà vua đã tiến hành cầu nguyện cho quân ngoại xâm (quân Tân La Triều Tiên và nhà Đường Trung Quốc) rút lui; cho nên Phật Giáo đóng vai trò Trấn Hộ Quốc Gia (Quốc Gia Phật Giáo). Người ta tin rằng nếu đọc tụng Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh () thì các Quỷ Thần sẽ bảo vệ đất nước và đuổi lui ngoại địch. Vào năm thứ 5 (676) đời vua Thiên Võ Thiên Hoàng (, Temmu Tennō), để cầu nguyện cho hạn hán tiêu trừ, tại các tiểu quốc tiến hành dâng lụa cho thần, thuyết giảng Kim Quang Minh Kinh (, thuyết rằng Tứ Thiên Vương ủng hộ quốc gia khỏi bị tại hại và ngoại xâm) cũng như Nhân Vương Bát Nhã Kinh (); cho nên Thiên Hoàng nắm quyền chủ đạo làm cho Phật Pháp hưng long và quyền thống chế giới Phật Giáo. Tại 4 ngôi chùa lớn (Đại Quan Đại Tự [], Dược Sư Tự [], Pháp Hưng Tự [] và Xuyên Nguyên Tự []) dưới thời Đại Kinh đô Đằng Nguyên, các Pháp Hội cầu nguyện cho Thiên Hoàng hay tai hại tiêu diệt, v.v., được tiến hành thường xuyên. Vào năm thứ 9 (737) niên hiệu Thiên Bình (), làn sóng dao động bệnh ghẻ lở và nạn đói cũng như nỗi sợ hãi quân Tân La sang xâm chiếm tràn lan khắp nơi; tại các tiểu quốc lệnh vẽ tượng Thích Ca Tam Tôn và chép Đại Bát Nhã Kinh (, có Lợi Ích trừ tai nạn và được phước đức) được ban bố. Y Thế Thần Cung (, Ise Jingu) cũng như những đền thờ Thần Xã ở vùng Trú Cát () và Vũ Tá () lệnh cho các sứ tiết cầu nguyện trấn phục quân Tân La. Trong khi đó, Đạo Từ () thì giảng Tối Thắng Vương Kinh () ở Đại Cực Điện (殿) trong hoàng cung. Vào năm thứ 12 (740) niên hiệu Thiên Bình, Đằng Nguyên Quảng Từ (, ) bắt đầu cử binh ở Đại Tể Phủ (, Dazaifu) và cuộc nỗi loạn ở Cửu Châu (, Kyūshū) có khả năng kết hợp với thế lực của quân Tân La. Thấy vậy, Thánh Võ Thiên Hoàng (, Shōmu Tennō) bị sốc nặng, bèn bỏ Bình Thành Kinh (), dời đô về Cung Nhân Kinh (); năm sau Thiên Hoàng cho xây dựng tại các tiểu quốc những ngôi Kim Quang Minh Tứ Thiên Vương Hộ Quốc Chi Tự (, tức Quốc Phận Tăng Tự) cũng Như Pháp Hoa Diệt Tội Chi Tự (, tức Quốc Phận Ni Tự) và cho an trí Kinh Thắng Man () bằng giấy tím viết chữ vàng vào trong tháp của những ngôi Quốc Phận Tăng Tự. Đến năm đầu (767) niên hiệu Thần Hộ Cảnh Vân (), tại các Quốc Phận Tăng Tự có tu pháp Sám Hối Cát Tường Thiên () để cầu nguyện cho thóc lúa được mùa, triệu dân An Lạc và việc này đã được thông lệ hóa, hình thành nên Cát Tường Hội (). Như ta đã thấy ở trên, Phật Giáo đóng vai trò cầu nguyện Trấn Hộ Quốc Gia đã phát triển tột đỉnh dưới Thời Đại Nại Lương (, Nara). Trong quá trình các kinh đô như Trường Cương Kinh (), Bình An Kinh () được dời chuyển đến nơi khác, những ngôi chùa ở kinh đô cũ cũng di chuyển về kinh đô mới; tuy nhiên, chỉ có trường hợp dời đô của Bình Thành Kinh thì ngoại lệ. Điều này cho thấy rằng từ thời Bình An (, Heian) trở về sau, mối quan hệ giữa Phật Giáo và quốc gia càng lạt lẽo dần. Tối Trừng (, Saichō) lấy việc an trí 100 bộ Hiển Giới Luận () và 100 vị tăng Bồ Tát trên Tỷ Duệ Sơn (, Hieizan) để khẳng định rằng ngôi chùa là thành quách của quốc gia và tuyên xướng tư tưởng Trấn Hộ Quốc Gia, nhưng quy mô của nó không thể sánh với Phật Giáo Trấn Hộ Quốc Gia dưới Thời Đại Nại Lương. Tuy nhiên, Nhân Vương Hội () là một lễ hội rất thịnh hành trong triều đình thời Bình An, cũng thể hiện rõ nét bóng dáng của Phật Giáo Trấn Hộ Quốc Gia.